Thu hồi đất khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Việc thu hồi quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Nhà Em ở mặt tiền đường quốc lộ 1A, diện tích đất là 200m2 bao gồm đất và nhà ở từ trước năm 1972. Vì là đất khai hoang nên từ trước đến giờ chưa có làm sổ hồng. Phần diện tích đất mà nhà Em xây dựng là 148 m2, phần còn lại là sân và hành lang lộ giới ( Phần không xây dựng tiếp nằm cạnh bên đường quốc lộ). Năm 1997 UBND huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định giải phóng mở rộng hành lang lộ giới nên có đền bù cho nhà Em là45 m2 đất tính từ mép hành lang lộ giới tính vào ( là một phần cái sân nhà Em, không có phần đang xây nhà). Ban bồi thường đất đã ghi nhận là toàn bộ diện tích đất 45 m2 này là đất thổ cư, như vậy cho Em hỏi là có đúng không ah? Vì năm 2015 dự án mở đường quốc lộ 1A nên giải tỏa nhà Em, nhưng lúc này Ban bồi thường đất chỉ bồi thường nhà Em chỉ có101 m2 là đất thổ cư còn lại 54 m2 là đất nông nghiệp ( Vì lý giải như sau: Theo quy định nhà nước thì địa bàn nhà Em chỉ được công nhận tối đa là 146m2 thổ cư còn lại 54 m2 là đất nông nghiệp, mà lúc trước nhà Em đã được đền bù là 45m2 thổ cư nên giờ chỉ còn101 m2). Em có thắc mắc là lúc trước đất đền bù45 m2 đó toàn bộ là sân nhà Em và hành lang lộ giới đường bộ và không có xây dựng trên đó bất kỳ công trình nào mà lại công nhận phần đất đó là đất thổ cư, còn diện tích đất mà nhà Em đang hiện hữu thì lại là đất nông nghiệp có 54 m2. Mong Anh Chị có thể giúp Em cho Em biết là cách xác định phần diện tích đất nông nghiệp của nhà Em như vậy có hợp lý chưa? (Nguyễn Hòa - Bình Định).

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Đại Hải - Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

Theo quy định thì đất ởlà đất xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ cho đời sống; đất vườn, ao gắn liền với nhà ở trong cùng một thừa đất thuộc khu dân cư (kể cả trường hợp vườn, ao gắn liền với nhà ở riêng lẻ) đã được công nhận là đất ở. Trường hợp thửa đất có vườn ao gắn liền với nhà ở đang sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tạm thời xác định diện tích đất ở bằng hạn mức giao đất ở mới do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Như vậy, kể cả phần sân ( tức phần công trình phục vụ đời sống ) cũng được coi là đất ở.

Tuy nhiên, với trường hợp này của bạn thì có một số vấn đề cần làm rõ như tại năm 1997 khi bị thu hồi đất thì có quyết định công nhận trong số diện tích đất ở hay không? Hằng năm gia đình bạn đóng tiền thuế sử dụng đất với mục đích sử dụng là gì? Ngoài ra, thì mỗi địa phương sẽ có quy định cụ thể về mức tối đa diện tích đất ở; cho nên, nếu như vượt hạn mức thì phần đất còn lại sẽ không được coi là đất ở.

Vậy nên, bạn cần xem lại và so sánh với bản đồ địa chính tại Uỷ ban nhân dân về phần diện tích đất ở mà gia đình được công nhận từ năm 1997 tổng thể diện tích đất ở là bao nhiêu và xem lại những biên lai nộp thuế từ trước tới nay để có thể giải quyết theo hai hướng như sau:

Thứ nhất, nếu như trong bản đồ địa chính cũng công nhận diện tích đất ở của gia đình bạn từ năm 1997 là 146m2 và gia đình bạn cũng đã đóng tiền thuế sử dụng đất với mục đích là đất ở với 146m2 này thì hiện tại khi thu hồi gia đình chỉ còn 101m2 đất ở thôi; cho nên, cách giải thích của ban bồi thường đất là phù hợp với quy định của pháp luật.

Thứ hai, nếu như tại bản đồ địa chính không ghi nhận diện tích đất ở của gia đình bạn từ năm 1997 tới nay là bao nhiêu và tại thời điểm năm 1997 cũng không có quyết định cụ thể về diện tích đất ở của gia đình bạn cùng với việc gia đình bạn đã đóng thuế sử dụng đất từ năm 1997 cho tới nay ( đóng với toàn bộ diện tích155m2) thì xét tới thời điểm hiện tại diện tích đất ở của gia đình bạn sẽ là 146m2 (vì 146m2 là diện tích tối đa mà địa phương quy định) và số còn lại sẽ không phải là đất ở.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.