Đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải bồi thường những gì?

Điều 37 Bộ Luật lao động 2012 quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động.

Hỏi: Anh chị cho em hỏi.em có ký hợp đồng lao động 1 năm với công ty. Nhưng thời gian làm việc chưa đủ 1 năm (em làm được 5 tháng) thì em quyết định nghỉ việc vì muốn đi công ty xin việc.em thông báo nghỉ việc từ ngày 11, đến ngày 19 em mới nghỉ. Thời gian xin nghỉ việc không đủ 1 tháng chỉ được 8 ngày. Vậy em xin hỏi em sẽ bị trừ những khoản trừ nào và có được lấy lại sổ bảo hiểm hay không? (Thanh Hằng - Thanh Hóa)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Ngô Đức Cường - Tổ tư vấn pháp luật Lao động Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Điều 37 Bộ Luật lao động 2012 quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây: a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động; b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động; c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động; đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước; e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền; g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục. 2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước: b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn”.

Điều 43 Bộ luật Lao động năm 2012 nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: “1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. 2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”.

Như vậy, nếu bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không thuộc 1 trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 38 BLLĐ thì bạn sẽ phải bồi thường nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho công ty.

Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động có nghĩa vụ báo trước 30 ngày cho người sử dụng.

Do vậy, trong trường hợp này bạn đã vi phạm nghĩa vụ báo trước là 22 ngày. Nên bạn sẽ phải bồi thường nghĩa vụ báo trước tương ứng với số tiền lương của bạn trong 22 ngày làm việc.

Về việc có được trả sổ bảo hiểm hay không, thì căn cứ theo quy định tại Điều 47 BLLĐ “3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.” Theo đó, sau khi chấm dứt HĐLĐ phía công ty sẽ có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm và trả sổ bảo hiểm cho bạn. Việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng luật hay trái luật thì phía người sử dụng đều phải trả sổ bảo hiểm cho người lao động.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.