Đến tuổi nghỉ hưu nhưng không cho nghỉ việc, đúng hay sai?

Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo luật định được quyền chấm dứt hợp đồng lao động với công ty.

Hỏi: Trong thời gian làm kế toán tại công ty TNHH B (Hải Phòng), tôi được công ty đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ. Năm nay, tôi đã 55 tuổi, đã đủ tuổi nghỉ hưu theo luật định. Tuy nhiên, khi làm việc với phòng nhân sự để xin nghỉ việc, thì họ không giải quyết. Lý do họ đưa ra là chưa giải quyết hết công nợ với công ty. Đề nghị Luật sư tư vấn, việc công ty không cho tôi nghỉ việc có trái pháp luật không? (Nguyễn Như Loan)
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Bùi Thị Phượng - Tổ tư vấn pháp luật lao động Công ty Luật TNHH Everst - trả lời:

Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động, có trường hợp: “Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này”.

Khoản 1 Điều 187 quy định về tuổi nghỉ hưu như sau: “Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi”.

Căn cứ theo quy định pháp luật nêu trên, bà đã đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ, đủ tuổi nghỉ hưu theo luật định đối với lao động nữ (55 tuổi) nên bà được quyền nghỉ việc ở công ty. Cho nên, việc phòng nhân sự yêu cầu bà phải giải quyết hết công nợ, mới cho bà nghỉ việc (nghỉ hưu) là trái quy định pháp luật lao động. Trường hợp bà và công ty không thống nhất công nợ, có thể coi là vụ việc tranh chấp dân sự và phải tách ra để giải quyết.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.