Tư vấn pháp luật về truy thu thuế khi đơn vị sự nghiệp không còn hoạt động

Công ty Luật TNHH Everest tư vấn về việc truy thu thuế khi đơn vị sự nghiệp không còn hoạt động.

Hỏi: Cơ quan tôi là đơn vị sự nghiệp, có quyết định sáp nhập của Bộ Công Thuơng. Hiện nay đơn vị đang quyết toán để đóng mã số thuế nhưng có số dư TK Tài sản cố định là 688 triệu. Trong đó toàn bộ tài sản này đã khấu hao hết và một số đã hỏng chưa thanh lý. Tài sản này đuợc bàn giao từ đơn vị khác sang nên hồ sơ đã thất lạc nhưng số dư trên sổ sách vẫn còn. Hiện nay cơ quan thuế đang quyết toán từ năm 2009-2013, tại thời điểm hiện tại đơn vị cũ không còn hoạt động nữa nên không xuất được hóa đơn cho đơn vị nhận bàn giao. Cục thuế đang truy thu thuế 10%, xin hỏi luật sư như vậy có đúng không? (Đỗ Văn Hoàng - Hà Nội).

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Hoài Thương - Tổ tư vấn pháp luật kế toán - thuế của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

Luật quản lý thuế sửa đổi bổ sung 2012 quy định về việc xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng tiền số thuế được hoàn như sau:

Điều 107. Xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn:

1.Người nộp thuế đã phản ánh đầy đủ, trung thực các nghiệp vụ kinh tế làm phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ kếtoán, hóađơn, chứng từ nhưng khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoànthìphải nộp đủ số tiền thuế khai thiếu, nộp lại số tiền thuế được hoàn cao hơn và bị xử phạt20% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được hoàn cao hơn và tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế thiếu hoặc số tiền thuế được hoàn cao hơn.

2.Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu người nộp thuế khai sai dẫn đếnthiếusố tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều 108 của Luật này thìngoài việc nộp đủsốtiền thuế, tiền chậm nộp theo quy định, người nộp thuế còn bị xử phạt như sau:

a)Phạt 10% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơnđối với trường hợp người nộp thuế tự phát hiện và khai bổsung quá thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày đăng kí tờ khai,nhưng trước khi cơ quan hải quan kiểm tra, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế theo quy định tại khoản 2điều 34 của Luật này.

b)Phạt 20% số tiền thuế khai thiếu, sốtiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơn đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này.”

Vì bạn không cung cấp đầy đủ thông tin cho chúng tôi nên căn cứ vàoquy định nêu trên thì cơ quan thuế sẽ áp dụngmức phạt 10% đối với số tiền khai thiếuthuế,số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơnđối với trường hợp người nộp thuế tự phát hiện và khai bổsung quá thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày đăng kí tờ khai,nhưng trước khi cơ quan hải quan kiểm tra, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế theo quy định tại khoản 2 điều 34 của Luật này. Do đó, trong trường hợp này, phía bên bạn thực hiện việckhai sai thuế dẫn đến thiếu tiền nộp thuếhoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều 108 của Luật này thìngoài việc nộp đủsốtiền thuế, tiền chậm nộp theo quy định thìphía bên bạn còn phải chịu mức phạt 10%số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơnđối với trường hợp người nộp thuế tự phát hiện và khai bổsung quá thời hạn sáu mươi ngày.

Căn cứ vào những quy định và phân tích nêu trên, bạn có thể xác định được mức thuế mà cơ quan thuế áp dụng đối với phía bên bạn là có đúng hay không.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật kế toán - thuế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.