Tư vấn có bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Điều 139 BLHS 2009 có quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Hỏi: Cho tôi hỏi, trường hợp chồng tôi có vay một món tiền khoảng 400 trăm triệu đồng với lãi suất 2ngàn/1triệu/1ngày. Bây giờ do làm ăn thua lỗ và chưa có khả năng trả nợ, chúng tôi có xin khất lại và trả dần với thời gian không nhất định. Bên chủ nợ họ đưa đơn kiện chồng tôi (chồng tôi vẫn đi làm bình thường). Như vậy chồng tôi có bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ? (Thanh Minh - Hà Nội)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Lê Thị Hồng Sơn - Tổ tư vấn pháp luật Bất động sản của Công ty Luật Everest - trả lời:

Điều 139 BLHS 2009 có quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1.Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy trong trường hợp này chồng bạn vay số tiền 400 triệu với lãi suất 2000/1 triệu/1 ngày nhưng hiện tại chồng chị không có khả năng trả nợ. Mà theo quy định tại Điều 139 BLHS thì để dấu hiệu của tội này là người phạm tội có hành vi gian dối trước khi có hành vi chiếm đoạt. Vì vậy nếu chồng chị không hề có hành vi gian dối trước khi vay tiền và hiện nay cũng không có mục đích chiếm đoạt số tiền trên mà chỉ là do làm ăn thua lỗ chưa trả được nợ thì không đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.