Tư vấn pháp luật về hành vi giả mạo chữ ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Việc giả mạo chữ kí để chuyển quyền sở hữu nhà, có thể bị coi là hành vi gian dối, có mục đích chiếm đoạt tài sản, hành vi này có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình sự 1999.

Hỏi: Tôi có 2 con chung với chồng và 1 con riêng. Vợ chồng tôi có 2 căn nhà là tài sản chung. Tôi đã nhờ người giả chữ ký của chồng tôi để chuyển quyền sở hữu 1 căn nhà cho 1 người con chung và 1 người con riêng. Nay chồng tôi muốn kiện tôi. Xin hỏi Luật sư, trường hợp của tôi có thể bị xử lý như thế nào? (Nguyễn Thị Nam - Thái Nguyên)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Bùi Ánh Vân - Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo quy định tại Điều 28 Luật hôn nhân gia đình 2000 về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung thì:

"1. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này".

Như vậy, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt tài sản chung phải có sự bàn bạc, thỏa thuận của cả vợ và chồng. Việc bạn tự ý định đoạt tài sản chung của hai vợ chồng là trái pháp luật.

Hơn nữa việc bạn giả mạo chữ kí của chồng để chuyển quyền sở hữu nhà cho còn chung và con riêng, có thể bị coi là hành vi gian dối, có mục đích chiếm đoạt tài sản, hành vi này có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009):

“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.