Quyền thừa kế và tranh chấp đất khai hoang?

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Hỏi: Ông nội em có 5 người con: 3 trai, 2 gái, canh tác trên mảnh đất 25.000m2 từ năm 1945. Ông nội em mất năm 1968, bà nội mất năm 1971, bác Tư em mất 1972. Vì chiến tranh ác liệt nên mọi người tản cư nơi khác hết. Về sau tạm yên rồi thì cha em về khai hoang, cải tạo để trồng trọt.Đến năm 1975, bác Hai của em với cương vị người anh cả trong gia đình chia 25.000m2 ra cho 4 người : bác Hai, cha em,cô Ba, cô Năm. Trên diện tích đất đã chia này, đã được sự đồng ý của mọi người, và đã đăng ký thuế nông nghiệp năm 1998 lần 1 và 2014 lần 2 => cấp sổ hồng đầy đủ.Nói về phần bác Tư đã mất,bác có 1 người vợ cùng 1 người con gái. Lúc anh em phân chia đất đai, vợ bác Tư đã không còn ở chung trên mảnh đất này. Hiện nay, người con gái này quay về tìm cha em để lấy lại phần đất mà lý ra bác Tư em được nhận. Người này còn cầm theo bản di chúc (chỉ nhìn thấy được bản photocopy) có chữ ký cả ông nội và bà nội, không có ngày tháng, không người làm chứng, không chứng thực chính quyền với nội dung là vẽ bản đồ sơ họa đất đai, diện tích chia đều cho 5 người con. Điều đáng nói là bà nội em không biết chữ, nhưng chữ ký rất đẹp. Nên rất nhều nghi vấn, người lớn thì hiện tại không còn ai để chứng minh.Vậy em nhờ Luật sưgiải đáp giúp em 2 trường hợp:1. Tờ di chúc này liệu có hợp pháp không nếu khởi kiện?2. Nếu tờ di chúc không hợp phápvề quyền thừa kế liệu có phải là vẫn chia đều cho 5 người không? ( Nguyễn Nhựt - Bình Dương)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phạm Thị Mai Phương – Tổ tư vấn pháp luật thừa kế – Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:

Điều 652.Di chúc hợp pháp

"1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực".

Điều 653.Nội dung của di chúc bằng văn bản

"1. Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc."

Điều 655.Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

"Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 653 của Bộ luật này."

Như vậy, di chúc bắng văn bản có thể không cần người làm chứng và công chứng, chứng thực tuy nhiên phải đáp ứng các điều kiện về nội dung của di chúc tại Điều 653 và khoản 1 Điều 652 BLDS. Theo như thông tin mà bạn cung cấp, bản di chúc này không ghi rõ ngày tháng năm lập di chúc thì bản di chúc này là không hợp lệ.

Như vậy phần đất đai của ông bà bạn để lại phải được phân chia cho những ngườithừa kế theo pháp luật.

Điều 676.Người thừa kế theo pháp luật

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bà bạn là: bác Hai, cô Ba, bác Tư, cha bạn, cô Năm. Như vậy, di sản của ông bà bạn để lại phải được chia đều cho 5 người.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật thừa kế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.