Quy định của pháp luật về giám định chứng cứ trong điều tra hình sự

Theo quy định của pháp luật hình sự thì kết luận giám định của cơ quan giám định có thẩm quyền cũng được coi là chứng cứ.

Hỏi: Hiện tại em đang làm cho công ty tài chính cho vay trả góp tiêu dùng vào tháng 11/2014 em có làm một hồ sơ trả góp cho khách hàng A. Giá trị hợp đồng vay 07 triệu, đến tháng 07/2015 công ty thông báo hợp đồng khách hàng A là giấy tờ giả khách hàng không có thật. Công ty đang thực hiện việc giám định hình ảnh lúc làm hợp đồng là chụp trực tiếp khách hàng hay là chụp qua tấm ảnh có sẳn. Vậy cho em hỏi có thể giám định được hình ảnh đó hay không? Hình ảnh đó có đủ điều kiện để được nhận giám định hay làm bằng chứng hay không (hình ảnh được chụp online trên hệ thống của ty). Và nếu xác thực hình ảnh không có thật giấy tờ không có thật thì sẻ bị xử lí như thế nào? (Quỳnh Thư - Hà Giang)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Ngô Đức Cường - Tổ tư vấn pháp luật hình sự Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Thứ nhất, về câu hỏi có thể giám định được hình ảnh chụp online trên hệ thống của công ty hay không? Việc giám định hình ảnh hay bất cứ nội dung nào thuộc nghiệp vụ của cơ quan giám định tư pháp, và họ sẽ là người ra kết luận chính thức.

Theo quy định của pháp luật hình sự thì kết luận giám định của cơ quan giám định có thẩm quyền cũng được coi là chứng cứ.

Thứ hai, về xử lý nếu có kết luận về giám định hình ảnh.

Việc khách hàng lập hồ sơ ảo để vay tiền tiêu dùng của công ty tài chính có thể thấy đây là dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Căn cứ theo quy định tại Điều 139 Bộ Luật hình sự sửa đổi bổi sung năm 2009 thì “người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từsáu tháng đến ba năm.”

Như vậy thì người lập hồ sơ ảo kia sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. Trong trường hợp này, nếu bạn là người ngay tình, hoàn toàn không hay biết về việc lập hồ sơ ảo kia thì bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Còn nếu bạn biết mà vẫn thực hiện lập hồ sơ cho khách hàng, gây thiệt hại đến tài sản của công ty, ngoài việc phải bồi thường cho công ty theo quy định của điều lệ công ty thì bạn còn có thể chịu trách nhiệm hình sự với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong vai trò đồng phạm.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.