Khởi kiện đòi nợ khi người vay tiền đã bỏ trốn?

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng.

Hỏi: Tôi có cho một người bạn cùng quê vay với số tiền là 50 triệu đồng. Số tiền này là do vợ của người bạn ký vay nhưng thỏa thuận thì có cả hai vợ chồng người vay đến đặt vấn đề với gia đình tôi, còn ngoài hợp đồng là 35 triệu nhưng số tiền này không có hợp đồng vay. Vậy gia đình tôi có thể khởi kiện được cả hai số tiền chung là 85 triệu này được không và mọi thủ tục khởi kiện phải làm như thế nào thì đơn kiện mới có hiệu lực? Hiện nay tổng số tiền vay đã quá hạn thanh toán là 06 tháng và gia đình chủ vay tiền đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú là 6 tháng mà không có thông tin liên lạc và cũng không có khất nợ.Đề nghị Luật sư tư vấn, gia đình tôi nên làm gì lúc này? (Đinh Anh - Hà Nội)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Ngô Đức Cường - Tổ tư vấn pháp luật hình sự Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

1.Về việc khởi kiện đối với người vay tiền

Việc người bạn của anh (chị) vay tiền (50 triệu có hợp đồng và 35 triệu không có hợp đồng)nhưng đến hạn không trả được tiền và đã quá hạn 6 tháng nhưng không trả và còn bỏ trốn nên theo quy định tại điều 140 Bộ luật Hình sự quy định về tội lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản thì người bạn củaanh (chị)đã phạm tội này. Và theo quy định trên mức phạt đối với hành vi của người này sẽ làphạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

C) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

D) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

Đ) Tái phạm nguy hiểm;

E) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Từ quy định trên, anh (chị) hoàn toàn có thể khởi kiện người anh (chị) đã vay tiền của bạn ra tòa.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.