Giành quyền nuôi con trong trường hợp ly thân trước khi ly hôn

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Hỏi: Em và chồng đã ly thân hơn 3 năm. Em có 2 con cháu lớn 5 tuổi 8 tháng, cháu nhỏ 3 tuổi 6 tháng. Nhưng em đã làm giấy con không cha, vậy khi em ly hôn chồng em có giành được quyền nuôi con không? (Nguyễn Hoàng - Bắc Ninh)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phan Thùy Dung - Tổ tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Do đó, chồng của bạn vẫn được giành quyền nuôi con nếu chồng bạn chứng minh được 2 đứa con đều được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân (mặc dù theo thông tin bạn cung cấp trên giấy khai sinh của con không có tên cha).Mặt khác, theo thông tin bạn cung cấp, con của bạn có độ tuổi: 5 tuổi 8 tháng và 3 tuổi 6 tháng mà thời gian ly thân của vợ chồng bạn là 3 năm chứng tỏ con của vợ chồng bạn được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, chồng bạn vẫn có quyền được nuôi con.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.