Chấm dứt hợp đồng lao động do ốm đau có trái luật không?

Công ty Luật TNHH Everest tư vấn trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do đau ốm.

Hỏi: Công ty em có ký hợp đồng 12 tháng, yêu cầu nhân viên cam kết làm việc tối thiểu 2 năm (mỗi năm ký lại hợp đồng 12 tháng mới) và giữ bằng tốt nghiệp đại học chính thức. Nếu chấm dứt hợp đồng trước 2 năm phải bồi thường tiền. Nay em vừa khám sức khoẻ thì phát hiện bệnh viêm amidan đã chuyển sang bệnh viêm xoang cấp và bác sỹ yêu cầu mổ amidan gấp vì nó quá to. Công việc là dạy học suốt 4 giờ/ 1 ngày, môi trường làm việc ồn ào nên phải nói nhiều và nói rất to vì vậy ảnh hưởng rất nhiều đến amidan. Bệnh amidan của em không cho phép em có thể duy trì hợp đồng này nữa vì bác sỹ bảo để lâu nguy hiểm. Cho em hỏi trường hợp bệnh em vậy thì thủ tục để đơn phương chấm dứt hợp đồng thế nào là hợp pháp và em có phải bồi thường khoản cam kết không? (Bùi Thùy - Thái Bình)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198  Luật gia Nguyễn Thanh Hương - Tổ tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thanh Hương - Tổ tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động (BLLĐ) thì:“Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục”.

Hợp đồng lao động (HĐLĐ) giữa bạn và công ty có thời hạn 12 tháng nên đây là HĐLĐ xác định thời hạn.

Bạn muốn đơn phương chấm dứt HĐLĐ vì lý do sức khỏe nên theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 37 BLLĐ nêu trên bạn phải chứng minh được mình bị ốm đau đã điều trị 90 ngày liên tục mà khả năng lao động chưa được phục hồi.

Nếu chứng minh được điều này, bạn được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với công ty. Tuy nhiên, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ chỉ đúng luật khi bạn thực hiện nghĩa vụ báo trước cho công ty ít nhất 30 ngày theo quy định tại Khoản 2 Điều 37 BLLĐ:“2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này”.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.