Tư vấn về tội đưa hối lộ

Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần,thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

Hỏi: Tư vấn về tội đưa hối lộ (Hà Thu - Hà Nội)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198 Luật gia Nguyễn Thị Yến - Tổ tư vấn pháp luật Hình sự của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thanh Hương - Tổ tư vấn pháp luật Hình sự của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Điều 289 quy định:

"1. Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dướihai triệu đồngnhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần,thì bị phạt từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới nămmươi triệu đồng;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tùhai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.

6. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phátgiác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và đượctrả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ".

II. Cấu thành tội phạm

- Chủ thể: người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

- Lỗi: cố ý trực tiếp

- Hành vi khách quan: hành vi đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người có chức vụ, quyền hạn. Hình thức đưa hối lộ có thể là trực tiếp hoặc thông qua trung gian. Tội phạm hoàn thành khi của hối lộ có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần.

Gây hậu quả nghiêm trọng là trường hợp gây ra thiệt hại đáng kể cho hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội.

Vi phạm nhiều lần là trường hợp đưa hối lộ từ hai lần trở lên mà mỗi lần của hối lộ đều có giá trị dưới 2 triệu đồng

Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn và người đưa hối lộ thỏa thuận được về của hối lộ cũng như về việc làm hoặc không làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì người đưa hối lộ cũng được coi là phạm tội đưa hối lộ.

III. Hình phạt

- Khung cơ bản: phạt tù từ một năm đến sáu năm

- Khung tăng nặng thứ nhất: phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 2

- Khung tăng nặng thứ hai: phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 3

- Khung tăng nặng thứ ba: phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân áp dụng đối với trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 4

- Hình phạt bổ sung: phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ

Nếu người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.