Tư vấn pháp luật về thuế thu nhập do ủy quyền tặng cho bất động sản

Tư vấn pháp luật thuế thu nhập...

Hỏi: Tôi và chồng tôi cùng đứng tên 1 mảnh đất. Tuy nhiên, đến năm 2009, chồng tôi qua đời. Tôi và chồng tôi có 1 con chung. Nay cha mẹ chồng tôi muốn cho lại phần đất mà cha mẹ chồng tôi thừa hưởng lại cho tôi. chồng tôi ủy quyền lại cho cháu ruột của tôi về việc ký các thủ tục cho tặng theo qui định. Trong trường hợp nay, người được ủy quyền có phải đóng thuế gì theo quy định không? (Đỗ Vũ Nam - Hà Nội)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Hoài Thương - Tổ tư vấn pháp luật kế toán - thuế của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

Điều 722 Bộ luật dân sự 2005 quy định vềHợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất:

"Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai".

Căn cứĐiều 129 Luật Đất đai 2003 được hướng dẫn tại Điều 152 Nghị định 181/2004/NĐ-CP về trình tự, thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất như sau:

"1. Bên được tặng cho quyền sử dụng đất nộp 1 bộ hồ sơ, gồm có: a) Văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho hoặcquyết định tặng cho quyền sử udngj đất của tổ chức; b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có); 2. Việc tặng cho quyền sử dụng đất được thực hiện như sau: a) Trong thời hạn không quá 4 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Văn phòngđăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, làm trích sao hồ sơ địa chính; gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có); chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp phải cấp mới Giấy chứng nhận; b) Trong thờihạn không quá 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất có trách nhiệm thông báo cho bên được tặng cho quyền sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính; c) Trong thời hạn không quá 3 ngày làm việc kể từ ngày bên được tặng cho thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc UBND xã, thị trấn có trách nhiệm trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Điều 581 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Hợp đồng ủy quyền "là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bênủy quyền , còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định".

Như vậy, bố mẹ chồng bạnủy quyền cho cháu ruột của bạnthông qua hợp đồng ủy quyềnthực hiện các thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất thì người được ủy quyền tức cháu ruột của bạn chỉ có nghĩa vụ thực hiện công việc trong phạm vi ủy quyền, nghĩa là làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho bạn tại cơ quan có thẩm quyền.

Về nghĩa vụ tài chính,Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định về thu nhập được miễn thuế quy định như sau: thu nhập từ thừa kế, quà tặng làbất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị em ruột với nhau. Theo đó, người được tặng cho không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Hơn nữa, người được ủy quyền chỉ thực hiện công việc trong phạm vi ủy quyền nên cháu bạn không có nghĩa vụ phải nộp thuế.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật kế toán - thuế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.