Trở thành thành viên công ty do được bố tặng phần vốn góp

Người được tặng cho phần vốn góp là vợ, chồng, cha, mẹ, con, người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba thì đương nhiên là thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên theo quy định tại khoản 5 Điều 54 Luật doanh nghiệp năm 2014.

Hỏi: Tôi sở hữu 30% vốn điều lệ của Công ty TNHH X (05 thành viên). Tôi có ý định tặng 10% vốn cho con trai mình với mục đích để con trai tôi là thành viên của công ty. Xin Luật sư cho biết, tôi có thể phần vấn này cho con trai mình không, con trai tôi có thể là thành viên công ty không? (Phan Anh - Từ Liêm)
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Kiều Anh - Tổ tư vấn pháp luật doanh nghiệp Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định:Thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác.Trường hợp người được tặng cho là vợ, chồng, cha, mẹ, con, người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba thì đương nhiên là thành viên của công ty. Trường hợp người được tặng cho là người khác thì chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận”.

Như vậy, pháp luật doanh nghiệp quy định thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác. Trường hợp người được tặng cho là con của người tặng thì đương nhiên là thành viên của công ty. Do vậy, con trai của ông (bà) đương nhiên là thành viên của công ty khi sở hữu 10% vốn công ty được chuyển từ phần vốn góp của ông (bà).

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.