Tội cưỡng đoạt tài sản có được hưởng án treo không?

Luật sư tư vấn về phạm tội cưỡng đoạt tài sản...

Hỏi: Tôi và anh A bị khởi tố về tội cưỡng đoạt tài sảnsản, thuộc khoản 1 điều 135 BLHS. Chúng tôi đều bị tam giam 3 tháng và hiện đang tại ngoại. Chúng tôi đã bị đưa ra xét xử sơ thẩm với mức án: anh A bị xác định là chủ mưu bị tuyên án 18 tháng tù, tôi đồng phạm bị tuyên án 12 tháng tù.Chúng tôi đã làm đơn kháng cáo xin hưởng án treoo và đang trong thời gian đợi phiên tòa phúc thẩm. Qua một số nguồn tin tôi được biết là anh A có khả năng được tuyên án treo.Vậy tôi xin hỏi nếu anh A là chủ mưu (chủ mưu ở mức độ đơn giản, nhưng đã bị nhận định như vậy trong bản án sơ thẩm) được tuyên án treo. Thì tôi có được hưởng án treo hay không?Anh A hơn tôi là có bằng khen còn tôi chỉ có giấy khen. Anh A được cơ quan tôi làm đơn xin giảm nhẹẹ cho (nhưng cơ quan của chúng tôi không liên quan gì tới vụ án này tôi và anh A làm cùng cơ quan) tôi không có đơn xin của cơ quan. Còn các tình tiết giảm̉m nhẹ khác là như nhau. (Trần Tiến - Hà Nội)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Đại Hải - Tổ tư vấn pháp luật tố tụng của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

Tại Điều 60 Bộ luật hình sự 1999 quy định về án treo như sau:“1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao ngườiđược hưởng ántreo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.3. Ngườiđược hưởng ántreo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”.


Ngoài ra, tại Tiểu mục 6.1 Mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP có quy định:

“6.1. Chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì;Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng;c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm”.

Căn cứ các quy định trên và căn cứ vào mức phạt mà Tòa án đã tuyên với 2 bạn thì bạn có quyền được hưởng án treo. Tuy nhiên, khi quyết định thì Tòa sẽ căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ hoặc các tình tiết khác để ra quyết định phù hợp.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật tố tụng mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.