Thủ tục làm giấy tờ nhà đất tái định cư?

Pháp luật quy định trình tự, thủ tục chuyển nhượng đất tái định cư.

Hỏi: Tôi mua một miếng đất tái định cư nằm trên đường Nguyễn Hữu Cảnh từ năm 2002 và đã làm nhà ở và chuyển hộ khẩu về ở từ đó tới nay. Khi mua người đứng tên trên giấy cùng toàn bộ con cái đã ký vào HĐ giấy tay.Ông ấy có làm giấy ủy quyền cho tôi đi làm giấy tờ. Nhưng vì chủ đầu tư vì lý do nào đó mà cho mãi tới nay nhà nước mới thông báo đồng ý cho moi người đi làm giấy tờ. Nhưng hiện nay ông ấy đã chết, vợ ông ta và con cái lấy hết lý do này, lý do khác không chịu đi làm. Nhà họ được 5 nền, bán cho tôi một nền. Cả 5 nền đều chưa làm giấy tờ, họ yêu cầu tôi đợi, họ làm thì sẽ làm cho tôi. Xin hỏi tôi có thể nhờ luật sư giúp tôi làm giấy tờ được không? Tôi có thể làm giấy tờ mang tên tôi không? Đề nghị Luật sư tư vấn. (Tâm Đan - Hải Phòng)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thanh Thu - Tổ tư vấn pháp luật đất đai Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

Căn cứ vào Điều 589 Bộ luật Dân sự có quy định như sau về vấn đề ủy quyền:

Điều 589. Chấm dứt hợp đồng uỷ quyền

"Hợp đồng uỷ quyền chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

"1. Hợp đồng uỷ quyền hết hạn;

2. Công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;

3. Bên uỷ quyền, bên được uỷ quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 588 của Bộ luật này;

4. Bên uỷ quyền hoặc bên được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết".

Vậy hợp đồng ủy quyền giữa bạn và người ký hợp đồng đã chấm dứt theo quy định tại Khoản 4 Điều 589 ( như trên).

Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 có quy định về các điều kiện để đất đai tham gia các giao dịch dân sự như sau:

"1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;b) Đất không có tranh chấp;c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính".

Theo thông tin bạn đưa ra cho chúng tôi thì bên bán cũng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), theo quy định của pháp luật để chuyển nhượng nền đất tái định cư. Trong trường hợp của bạn thì bên bán chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như vậy về mặt pháp lý thì rõ ràng bên bán cũng không thể chuyển nhượng nền đất đó lại cho bạn.

Theo pháp luật, ở thời điểm hiện tại bạn không thể tự mình đi làm thủ tục xin cấp sổ đỏ đứng tên bạn, bởi:

+ Nguồn gốc đất: đất tái định cư

+ Hợp đồng chuyển nhượng đã vô hiệu, không có giá trị pháp lý.

+ Hợp đồng ủy quyền không còn hiệu lực.

Việc cấp sổ đỏ phải do bên được cấp đất tái định cư thực hiện. Sau đó bên chuyền nhượng và bên được chuyển nhượng mới có thể thực hiện thủ tục sang tên.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật đất đai mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.