Quy đinh về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

Hỏi: Tôi năm nay 27 tuổi, tôi có kết hôn và sống như vợ chồng với một người đã có vợ và hai con. Tuy nhiên theo tôi được biết thì môi quan hệ của vợ chồng (chồng hiện tại và vợ cũ của anh ta) họ đã không còn cách đây 03 năm và cô ta cũng đã bỏ đi, hiện tại chồng tôi nuôi 02 con nhỏ. Lúc đầu mới quen tôi không hề biết nh ta đã có vợ và con. Sau khi yêu nhau thì tôi mới biết. Mối quan hệ của chúng tôi vẫn duy trì và anh kêu tôi đợi anh giải quyết ly hôn với vợ cũ thì anh sẽ cưới tôi. Nhưng khi anh đệ đơn ly hôn thì không liên lạc được với vợ cũ của anh để lý đơn ly hôn. Vì vậy anh nộp đơn ly hôn theo phương thức là đơn phương ly hôn. Không may cho tôi trong lúc anh đệ đơn ly hôn thì tôi có thai và hai bên gia đình bắt phải làm đám cưới.
Trước khi đám cưới thì anh có về quê vợ cũ để tìm cô ta và thông báo cho mẹ cô ta biết là anh sẽ cưới vợ khác. Mẹ cô ta đồng ý và chúng tôi tiến hành làm đám cưới. Sau khi đám cưới thì bên tòa án trả lại hồ sơ ly hôn của chồng tôi vì lý do không tìm được nơi ở của vợ cũ anh ta đang ở đâu (vì cô ta đã cắt hộ khẩu với nhà chồng nhưng chưa nhập hộ khẩu về lại quê nhà nơi cô ta ở). Bẵng đi một năm sau, sau khi tôi sinh con xong thì chồng tôi lại tiếp tục đệ đơn ly hôn lần thứ 2 lên tòa án. Hiện tại đã tìm được cô vợ cũ của chồng tôi và cô ta đã đồng ý ký tên để ly hôn với chồng tôi. Nhưng hiện tại gặp một số rắc rối nên tòa chưa thụ lý hồ sơ của chồng tôi.

Tôi biết về mặt giấy tờ là tôi đã vi phạm luật hôn nhân gia đình nhưng tôi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi xem nếu cô ta quay lại kiện tôi thì tôi sẽ chịu hình phạt như thế nào và có cách nào cho tôi không bị hình phạt đó. Và mong luật sư cho tôi được biết thời gian thụ lý hồ sơ đến khi có quyết định của tòa án là bao lâu? Quy định thế nào? (Nguyễn Yến - Thái Bình)
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Đào Thị Thu Hường - Tổ Tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn đã chung sống như vợ chồng với người đã có vợ, như vậy hành vi của bạn vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, hành vi của bạn có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của pháp luật, cụ thể:

Xử lý vi phạm hành chính: "Điều 48 - Nghị định 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bởi nghị định 67/2015/NĐ-CP) - Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng: 1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ".
Xử lý hình sự: "Điều 147 - Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 - Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm".

Tại thông tư liên tịch số: 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC thì hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi: "3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát".

Theo quy định trên nếu như việc chúng sống như vợ chồng của hai người là nguyên nhân chính dẫn đến việc vợ chồng người đó ly hôn thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.theo quy định tại điều 147 Bộ luật hình sự.

Về thời hạn giải quyết ly hôn,theo quy định tạiđiều 179 Bộ luật TTDS 2004 thì thời hạn giải quyết vụ án ly hôn như sau: "Điều179. Thời hạn chuẩn bị xét xử 1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau: a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này".

Như vậy thời hạn xét xử vụ án ly hôn là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn thêm 2 tháng.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.