Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục...

Hỏi: Tôi là nhân viên của Công ty THHH ký hợp động lao động vô thời hạn vào ngày 01/06/2015. Đến ngày 29/8/2015 Tổng giám đốc quyết định chấm dứt hợp đồng với tôi đến ngày 31/8/2015 tôi nhận được quyết định nghỉ việc. Vậy cho tôi hỏi khi họ làm như thế thì có đúng không và tôi có được cái gì không? Nếu có tranh chấp xảy ra thì tôi nên làm như thế nào, tôi có được kiện ra tòa không và thời gian là bao lâu? (Vương Văn Bắc - Hòa Bình)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phạm Thị Mai Phương – Tổ tư vấn pháp luật Lao động – Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012 thì người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động với người lao động trong các trường hợp sau đây:

"-Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao độngNgười lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục;Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động đối với các trường hợp Người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự; Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc mà hai bên không có thỏa thuận khác"

Trong các trường hợp này người Sử dụng lao động phải báo cho người sử dụng biết trước:

"+ Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

+ Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

+ Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại căn cứ thứ 2 và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Người sử dụng lao động muốn đơn phương chấm dứt HĐLĐ với người lao động thì người sử dụng lao động phải xin ý kiến của Công Đoàn.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp ở trên cho thấy nếu bạn không thuộc các trường hợp kể trên mà NSDLĐ là phía công ty TNHH đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ với bạn thậm trí công ty còn không thông báo trước Hợp đồng mà bạn ký với công ty là hợp đồng không xác định thời hạn thì công ty phải có nghĩa vụ báo trước cho bạn ít nhất là 45 ngày. Công ty chỉ báo trước cho bạn 3 ngày là không đúng với quy định của pháp luật lao động. Trong trường hợp này phía NSDLĐcó nghĩa vụ theo Điều 42 BLLĐ 2012 như sau:

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động;2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này. 3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động. 4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động. 5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”.

Như vậy, bạn sẽ có quyền trở lại làm việc theo HĐLĐ và phải các khoản tiền bảo hiểm cho bạn cộng thêm những ngày bạn không được làm việc và ít nhất 2 tháng lương theo hợp đồng, nếu không còn vị trí công việc giao kết trong hợp đồng mà bạn vẫn muốn làm việc thì ngoài các khoản bồi thường hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Nếu bạn không muốn nhận lại thì được thêm khoản tiền bồi thường bằng ít nhất 2 tháng lương. Bạn được thêm một khoản tiền tương ứng với những ngày công ty không báo trước cho bạn. Riêng đối với khoản trợ cấp thôi việc thì bạn không được nhận vì kiện để được hưởng trợ cấp thôi việc làm là người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên theo điều 48 BLLĐ về trợ cấp thôi việc làm. Do bạn chưa làm việc đủ 12 tháng trở lên nên sẽ không nhận được khoản trợ cấp này.

Thứ hai, về việc có tranh chấp xảy ra

Đây là tranh chấp lao động cá nhân, Theo khoản 1 điều 201 BLLĐ, Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
" a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng."

Trường hợp của bạn liên quan đến vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì thế bạn có thể kiện công ty ra Tòa. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Trước tiên bạn phải chuẩn bị hồ sơ khởi kiện gồm:

1/ Đơn khởi kiện.

2/ Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính).

3/Thu thập chứng cứ tài liệu để chứng minh quyền khởi kiện.

Phụ thuộc vào tranh chấp mà các tài liệu cần thiết, tuy nhiên thông thường các chứng cứ, tài liệu để chứng minh quyền khởi kiện bao gồm:

- Hợp đồng lao động, hoặc quyết định vào làm việc.

- Các tài liệu chứng minh sự kiện tranh chấp giữa các bên.

Hồ sơ này nộp tại TAND cấp huyện nơi công ty bạn có trụ sở.

Thời hạn giải quyết theo Điều 179

- Thời hạn chuẩn bị xét xử từ 2 đến 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

- Thời hạn mở phiên tòa từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.