Luật sư tư vấn: công ty không chốt sổ bảo hiểm cho người lao động

Luật sư tư vấn trường hợp người sử dụng lao động không trả lương và chốt sổ bảo hiểm với nội dung câu hỏi như sau

Hỏi: Tôi có vấn đề cần hỏi về luật lao độngbảo hiểm xã hội (BHXH) như sau: Tôi đi làm ở 1 công ty từ tháng 01/2015, nhưng đến tháng 05/2016 công ty mới ký hợp đồng và đóng BHXH cho tôi. Hợp đồng ký kết là hợp đồng không thời hạn. Ngày 26/07/2016, tôi viết đơn nghỉ việc. Theo luật thì đối với hợp đồng không thời hạn, tôi phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 45 ngày. Tuy nhiên đến ngày 02/09/2016, tôi chính thức nghỉ việc, vậy là thời gian bàn giao của tôi chỉ là 38 ngày, không đủ 45 ngày, công ty quy kết tôi tự ý nghỉ việc và không trả lương tháng 08/2016 và không chốt sổ bảo hiểm cho tôi. Tôi muốn hỏi 2 vấn đề: Công ty không trả lương và không chốt sổ bảo hiểm cho tôi có đúng quy định của pháp luật không? Khi tôi đi làm ở công ty mới, trong trường hợp công ty cũ không chốt sổ cho tôi, thì tôi phải làm những thủ tục gì để đóng bảo hiểm tại công ty mới? (Trần Thắng - Hà Nội)
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phạm Thị Mai Phương - Tổ tư vấn pháp luật lao động Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Thứ nhất, về việc công ty không trả lương

Theo quy định tại khoản 3, Điều 37, Bộ luật lao động 2012: “3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày”.

Mà đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này (điều 41 BLLĐ).

Trong trường hợp này, bạn mới chỉ báo trước 38 ngày là không đúng theo quy định pháp luật nên thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) trái pháp luật nên công ty quy kết bạn tự ý nghỉ việc là đúng.

Điều 43 BLLĐ quy định về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:

“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này”.

Như vậy, khi bạn nghỉ việc công ty vẫn có trách nhiệm trả lương tháng 6/2016 cho bạn nhưng sẽ trừ đi những nghĩa vụ mà bạn phải thực hiện khi bạn nghỉ việc không đúng quy định, đó là khoản tiền lương của bạn trong 7 ngày bạn không báo trước và nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Thứ hai, về việc công ty không chốt sổ bảo hiểm

Chốt sổ BHXH là ghi quá trình đóng BHXH, BHTN trên sổ BHXH của người tham gia dừng đóng BHXH tại một đơn vị. Theo quy định tại Điều 47, Bộ luật lao động năm 2012 và Điều 21, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm: “Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật”.

Do vậy, việc công ty không chốt sổ BHXH cho bạn khi bạn nghỉ việc là không đúng quy định pháp luật.

2. Trường hợp đóng tiếp sổ cũ: Theo quy định của pháp luật, khi người lao động nghỉ việc thì NSDLĐ có nghĩa vụ chốt sổ bảo hiểm và trả cho NLĐ, nếu công ty không trả cho bạn là vi phạm quy định pháp luật. Do đó, bạn có thể yêu cầu công trả sổ bảo hiểm cho mình nếu công ty không trả thì bạn có thể khởi kiện tranh chấp lao động.

Khi chuyển đến cơ quan mới, bạn chỉ cần nộp sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan để được tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội; cơ quan này tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội cho bạn.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.