Hợp đồng thuê nhà có nhất thiết phải công chứng không?

Theo quy định hiện hành, hợp đồng thuê nhà không nhất thiết phải công chứng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.

Hỏi: Đề nghị Luật sư tư vấn, có phải tất cả các hợp đồng thuê nhà đều phải công chứng không? (Nguyễn Thị Đằng - Hà Nội)
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Lương Thị Anh Thư - Tổ tư vấn pháp luật Hợp đồng Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Điều 492 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về hình thức hợp đồng thuê nhà ở: “Hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ 6 tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Tuy nhiên, Khoản a Mục 28 Nghị quyết số 52/NQ-CP của Chính phủ ngày 10/12/2010 về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp quy định: “Bãi bỏ quy định bắt buộc công chứng các hợp đồng Công chứng hợp đồng thuê nhà ở – B-BTP-133520-TT, quy định việc công chứng các hợp đồng nói trên được thực hiện theo nhu cầu của các bên tham gia hợp đồng”.

Tại khoản 2 Điều 122 Luật nhà ở năm 2014 cũng quy định: “Đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu…”.

Từ những quy định nêu trên, theo quy định hiện hành thì hợp đồng thuê nhà không nhất thiết phải công chứng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hợp đồng mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.