Bố mất không để lại di chúc, mẹ có toàn quyền chia tài sản cho con không?

Tài sản do người chết để lại, trường hợp không có di chúc tài sản sẽ được chia theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Đề nghị luật sư tư vấn, bố mất không để lại di chúc, mẹ có toàn quyền quyết định chia tài sản cho con không?

Nội dung yêu cầu của khách hàng tóm tắt như: Bố tôi mất không để lại di chúc, giờ mẹ tôi muốn chia hết tài sản cho anh trai cả mà không cho tôi và em gái thứ hai. Tôi xin hỏi mẹ có quyền chia như vậy không? Chúng tôi có quyền yêu cầu tòa án phân chia số tài sản theo quy định của pháp luật không? (Nguyễn Hoàng, Hưng Yên)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật sư Nguyễn Thị Yến - Trưởng nhóm tư vấn trực tuyến của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Về thắc mắc của anh (chị) chúng tôi có một số ý kiến pháp lý sơ bộ như sau:

Thứ nhất, tài sản được chia được xác định là tài sản riêng của mẹ.

Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) quy định về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng như sau: "1- Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật. 2- Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác" (Điều 206 ).

Như vậy, nếu các tài sản mẹ anh (chị) muốn chia cho anh trai cả là tài sản thuộc sở hữu riêng của bà. Theo quy định tại Điều 206 BLDS 2015 (nêu trên), mẹ anh (chị) có toàn quyền định đoạt đối với những tài sản này. Do đó, trong trường hợp này anh (chị) và chị gái không có quyền khởi kiện để yêu cần phân chia tài sản.

Thứ hai, tài sản được chia được xác định là tài sản riêng của bố.

BLDS 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật: "1- Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: (a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; (b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; (c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 2- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. 3- Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản" (Điều 651).

Trường hợp, tài sản mà mẹ anh (chị) muốn chia là tài sản riêng của bố anh (chị). Việc phân chia di sản được thực hiện như sau: Do bố anh (chị) mất không để lại di chúc nên di sản thừa kể sẽ được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố anh (chị). Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: “vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết…”. Trong trường hợp này di sản bố anh (chị) để lại sẽ được chia đều cho hai chị em anh (chị) anh trai cả và mẹ.

Những người được thừa kế có thể tự thỏa thuận về việc chia di sản, nếu không thỏa thuận được thì có thể khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết.

Thứ ba, tài sản được chia là tài sản chung của bố mẹ.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HN&GĐ) quy định về việc giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết:

"1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác" (Điều 66).

Như vậy, theo quy định của pháp luật, trong trường hợp này tài sản chung của bố mẹ anh (chị) sẽ được chia đôi, một nửa khối tài sản chung sẽ được xác định là tài sản riêng của mẹ anh (chị), bà có toàn quyền định đoạt phần tài sản này. Bên cạnh đó, một nửa khối tài sản chung thuộc về bố anh (chị) sẽ được xác định là di sản thừa kế mà bố anh (chị) để lại và cũng được chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế; việc phân chia được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected], [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật thừa kế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.