Xét nghiệm ADN không phải là con ruột, có được kiện đòi bồi thường?

Luật sư tư vấn hôn nhân...

Hỏi: Em và vợ em có tổ chức đám cưới, nhưng không đăng ký kết hôn. Có bầu e mới tổ chức đám cưới.Sau khi sinh con ra xétnghiệm ADN không phải là con ruột của em, em đòi kiện ra tòa và bồi thường cho em. Trường hợp như vậy tòa có xét cho em không? (Thanh Hằng - Hà Nội)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Đào Thị Thu Hường - Tổ Tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình quy định về xác định cha, mẹ cho con:"Điều 88. Xác định cha, mẹ1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định".

Như vậy, mọi đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân đều được pháp luật công nhận là con chung của cả hai vợ chồng. Trong trường hợp bạnkhông thừa nhận con thì bạnphải làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân cấp quận (huyện)nơi bạnđang thường trú. Kèm theo đơn bạnphải cung cấp các chứng cứ cho Tòa án để Tòa án xem xét việc từ chối nhận con của bạnlà có cơ sở. Còn việc bạnyêu cầu vợ bạn phải bồi thường cho bạn vì vợ bạn sinh con nhưng không phải con của bạn với vợ bạnsẽ không đượcTòa ánchấp nhận bởi lẽ pháp luật Viêt Nam không có quy định về trường hợp xử lý vi phạm của vợ hoặc chồng về vấn đề này.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.