Tư vấn xác định người sử dụng đất hợp pháp

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Hỏi: Năm 2014, gia đình ông H được Ủy ban nhân dân giao cho 2000 m2 đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, tại thời điểm giao đất gia đình ông có 5 người. Đến nay gia 3 con đã lập gia đình và ở riêng cùng thôn và tiếp tục sản xuất nông nghiệp, các con ông đề nghị chia phần đất nông nghiệp trong khu dân cư để có đất sản xuất nhưng ông không đồng ý.Với lý do trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên chủ sử dụng đất là ông H nên 2000m2 đất này chỉ thuộc quyền sử dụng của ông. Đề nghị Luật sư tư vấn, trong vụ việc này, ai là người sử dụng đất hợp pháp? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc này? Vụ việc này được giải quyết như thế nào, theo trình tự thủ tục như thế nào? (Vũ Thành - Yên Bái)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Trần Mỹ Linh - Tổ tư vấn pháp luật tố tụng Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

- Nếu trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ thể hiện "Cá nhân trong nước thì ghi "Ông" (hoặc "Bà"), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân (nếu có), địa chỉ thường trú. Giấy tờ nhân thân là Giấy chứng minh nhân dân thì ghi "CMND số:..."; trường hợp Giấy chứng minh quân đội nhân dân thì ghi "CMQĐ số:…"; trường hợp chưa có Giấy chứng minh nhân dân thì ghi "Giấy khai sinh số…." thì là đất cấp cho ông H, ông H có quyền không chia tài sản này.

- Nếu trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện:

"Hộ gia đình sử dụng đất thì ghi "Hộ ông" (hoặc "Hộ bà"), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số của giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình như quy định tại Điểm a Khoản này; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình.

Trường hợp chủ hộ gia đình hay người đại diện khác của hộ gia đình có vợ hoặc chồng cùng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi cả họ tên, năm sinh của người vợ hoặc chồng đó".

Hoặc:"Trường hợp thửa đất có nhiều tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất mà có thỏa thuận bằng văn bản cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện (có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật) thì Giấy chứng nhận được cấp cho người đại diện đó. Trên Giấy chứng nhận ghi thông tin của người đại diện theo quy định tại Khoản 1 Điều này, dòng tiếp theo ghi "Là người đại diện cho những người cùng sử dụng đất (hoặc cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cùng sử dụng đất và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất) gồm:... (ghi lần lượt tên của những người cùng sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất)".

Nếu có thể hiện như trên thì là đất được cấp cho hộ gia đình.

Căn cứ điều 108 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ”.

Như vậy, đất được cấp cho hộ gia đình thì thuộc quyền sở hữu chung của tất cả mọi thành viên trong hộ gia đình. Việc xác định những người có quyền đối với quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình được căn cứ vào sổ hộ khẩu tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Tại Điều 109 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình:1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý”.

Theo thông tin bạn cung cấp, gia đình ông H được cấp đất vào năm 2014, thời điểm đó gia đình ông H có 5 người. Vì vậy, đây là hình thức giao đất của nhà nước cho hộ gia đình, việc ông H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là với hình thức chủ hộ - là người đại diện đứng tên, còn trên thực chất, quyền sử dụng mảnh đất này được xem là tài sản chung của hộ gia đình. Vì vậy, các con ông H hoàn toàn có quyền yêu cầu ông H phân chia quyền sử dụng đất trên một cách hợp lý để mọi người có thể được sử dụng.

Trong trường hợp ông H không chịu thực hiện, các con ông H có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân xã xuống để hòa giải và phân tích cho ông H hiểu về quyền và nghĩa vụ của mình. Nếu ông H vẫn nhất quyết không chịu thực hiện theo cách giải quyết mà cơ quan hòa giải đưa ra, các con ông có quyền làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để được giải quyết theo quy định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Tại Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

- Theo đó, thủ tục khởi kiện này được tiến hành như sau: Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền, thực hiện việc tạm ứng án phí và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án. Khi Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án, sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu hòa giải thành thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết 07 ngày mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc. Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngay trong quá trình xét xử, các đương sự vẫn có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu không đồng ý các bên vẫn có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật tố tụng mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.