Tư vấn về hợp đồng cho mượn quyền sử dụng đất có đòi lại được không?

Hợp đồng mượn tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.

Hỏi:Tôi tên là V.A, tôi ở Ninh Thuận, tôi muốn hỏi Luật sư vấn đề như sau: Cha mẹ tôi có một lô đất nhà ở (có sổ đỏ). Khoảng 10 năm trước ba mẹ có cho chú ruột mượn đất này để ở nhưng có thỏa thuận là ở bao lâu cũng được nhưng không được bán, sự thoả thuận có mặt gia đình hai bên (nhưng là thỏa thuận bằng miệng). Sau này chú mất, vợ con của chú tìm người mua số đất trên (xã không công chứng) sang giấy tay, người mua cũng đồng ý với số tiền 15 triệu. Vậy xin hỏi gia đình tôi có bị mất đất không? Bên bán có hợp lệ hay cấu thành lừa đảo không? Bên mua có vấn đề gì không? Do vị trí đất nhà ở này là do thoả thuận bằng miệng không có văn bằng chứng thực đất cho chú luôn. Nhưng mười mấy năm nay ai cũng nghĩ đất này là của chú. (Vũ Hải Nam - Hà Nội).

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Vương Tùng Anh - Tổ tư vấn pháp luật hợp đồng của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản nên hợp đồng giữa bố mẹ bạn và chú bạn cũng phải tuân thủ theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 về Hợp đồng cho mượn tài sản. Theo Điều 512, Bộ luật dân sự 2005 thì: "Hợp đồng mượn tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được."

Như vậy, theo quy định này, vì bản chất thoả thuận của hai bên là thống nhất về việc bố mẹ anh (chị) cho chú mượn quyền sử dụng đất (tức là được sử dụng đất của bố mẹ anh (chị) mà không phải trả tiền và bố mẹ anh (chị) có quyền đòi lại) chứ không phải là thoả thuận tặng cho quyền sử dụng đất nên gia đình anh (chị) không "mất đất". Mặt khác, căn cứ Khoản 1,Điều 517 Bộ luật dân sự 2005 thì bên cho mượn có quyền "Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thoả thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý;". Như vậy, pháp luật chỉ quy định bên bố mẹ anh (chị) phải thông báo trước một thời gian hợp lý trước khi lấy lại quyền sử dụng đất mà không bị mất quyền sử dụng đất này.

Về giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ con của chú anh (chị) với người mua mảnh đất này: Bên bán có hợp lệ hay cấu thành lừa đảo không? Bên mua có vấn đề gì không?

Theo thông tin anh (chị) cung cấp,giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ con của chú anh (chị) với người mua mảnh đất được thực hiện bằng hình thức "sang giấy tay" không có công chứng, có thể hiểu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đượclập thànhvăn bản nhưng không cócông chứng, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, do bố mẹ anh (chị) chỉ thoả thuận với chú anh (chị) về việc cho mượn quyền sử dụng đất nên bản chất không chuyển nhượng quyền sở hữu quyền sử dụng đất mà chỉ chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng quyền sử dụng mảnh đất này. Do vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ con chú anh (chị) với người mua đất là không hợp pháp vì vợ con chú anh (chị) không có quyền sở hữu quyền sử dụng mảnh đất đó, hay nói cách khác, vợ con của chú anh (chị) không có định đoạt quyền sử dụng mảnh đất đó nên không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hợp đồng này sẽ bị vô hiệu. Cụ thể, Bộ luật dân sự 2005 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

"Điều 131. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn. Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu.Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này"

"Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa.Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó."

Gia đình anh (chị) hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự này vô hiệu. Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu là hai bên trả lại cho nhau những gì đã nhận. Theo đó, chú anh (chị) phải trả lại tiền cho bên kia, bên kia trả lại đất.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hợp đồng mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.