Người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có nghĩ vụ gì?

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn nhưng phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật đối với người sử dụng lao động.

Hỏi: Công ty X ký hợp đồng với tôi với thời hạn 3 năm từ ngày 2/5/2014. Để thực hiện hợp đồng lao động, công ty X yêu cầu tôi nộp bằng thạc sỹ bản chính. Tháng 11/2014, vì lý do cá nhân, tôi thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Nhờ luật sư tư vấn cho tôi công ty X yêu cầu trên có đúng không và tôi có phải thực hiện nghĩa vụ gì với công ty X không? (Đỗ Thăng - Bình Định)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phạm Hải Anh - Tổ tư vấn pháp luật Lao động của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

Theo Điều 20 Bộ luật Lao động 2012 thì những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng gồm:

- Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

- Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

Như vậy, việc công ty X yêu cầu anh nộp bằng thạc sỹ bản chính là trái quy định của pháp luật.

Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động 2012 quy định trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục”.

- Trường hợp 1: Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn của anh A là đúng pháp luật

Nếu lý do cá nhân của anh thuộc các trường hợp nêu trên thì anh có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với công ty X. Hợp đồng của anh là hợp đồng xác định thời hạn nên khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì anh phải thông báo trước ít nhất 03 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và g khoản 1 Điều 37; ít nhất 30 ngày cho công ty X đối với trường hợp điểm d, điểm đ khoản 1 Điều 37.

- Trường hợp 2: Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của anh là trái pháp luật

Nếu anh chấm dứt hợp đồng trái pháp luật thì anh phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 43 Bộ luật Lao động:

“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này”.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.