Hỏi về ly hôn với người nước ngoài đang ở nước ngoài

Sau khi đã điều tra xác minh địa chỉ của họ theo thủ tục xuất nhập cảnh, địa chỉ mà họ khai khi đăng ký kết hôn theo giấy đăng ký kết hôn... nhưng cũng không biết tin tức, địa chỉ của họ, thì được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ và xử cho ly hôn.

Hỏi: Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam quy định về thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc về TAND cấp tỉnh. Đồng thời Luật hôn nhân gia đình và các văn bản hướng dẫn cũng quy định cụ thể về căn cứ giải quyết ly hôn đối với người nước ngoài có đúng không? (Mạnh Quỳnh - Hà Nam)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Đào Thị Thu Hường - Tổ Tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Về quyền yêu cầu ly hôn.Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về quyền ly hôn, cụ thể: "1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.Như vậy, chị có quyền đơn phương khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn mà không cần sự đồng ý của người chồng".

Theo quy định của bộ Luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành thì thủ tục giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh. Vì vậy, khi có yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn thì chị gửi đơn đến TAND cấp tỉnh nơi thường trú của chị để yêu cầu giải quyết chứ không phải nộp đơn ở sở Tư Pháp.

Hồ sơ trong trường hợp này bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn (theo mẫu);

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Sổ hộ khẩu, Chứng minh thư nhân dân của vợ, chồng (bản sao chứng thực);

(Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện)

Chị nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án sau khi nhận thông báo nộp tiền tạm ứng án phí của Tòa án.

Sau khi nhận được đơn khởi kiện và biên lai nộp tiền án phí, Toà án sẽ xác minh, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết thì ra quyết định thụ lý đơn và tiến hành giải quyết theo thủ tục chung.

Căn cứ theo Nghị quyết 01/2003 NQ-HĐTP của TAND tối cao ngày 16/4/2003 quy định về trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài như sau:

“Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, nhưng người nước ngoài đã về nước mà không còn liên hệ với công dân Việt Nam, nay công dân Việt Nam xin ly hôn, thì Toà án thụ lý giải quyết.Theo quy định tại Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì vợ chồng có nghĩa vụ chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc; do đó, nếu người nước ngoài bỏ về nước không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo quy định, thời gian không có tin tức cho vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam từ một năm trở lên mà đương sự, thân nhân của họ và các cơ quan có thẩm quyền (cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước họ, các cơ quan có thẩm quyền mà người đó là công dân), sau khi đã điều tra xác minh địa chỉ của họ theo thủ tục xuất nhập cảnh, địa chỉ mà họ khai khi đăng ký kết hôn theo giấy đăng ký kết hôn... nhưng cũng không biết tin tức, địa chỉ của họ, thì được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ và xử cho ly hôn”.Theo đó, tà án có thể căn cứ vào quy định trên để giải quyết việc ly hôn cho chị.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.