Tư vấn về việc vay tiền không trả trong hợp đồng vay tài sản?

Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

Hỏi:Trước đây em có cho 1 người vay với tổng số tiền là 75tr, hai bên có làm hợp đồng vay tiền và người đó có hẹn em 1 tháng sau sẽ trả với việc khi vay được ngân hàng sẽ trả, nhưng hiện tới bây giờ đã gần được hai năm mà người đó vẫn chưa trả em tiền lãi hay tiền gốc 1 đồng nào.Trước khi làm thủ tục vay người đó có đưa cho em hợp đồng và xác nhận lương để làm tin là có vay ngân hàng (em nhờ người tra hệ thống thì người này chưa hề có bất cứ một hoạt động nào tới vay). Trong thời gian trên em gọi điện hay lên nhà người đó đều khôngđược hay cố ý tránh mặt, em thấy mọi người vẫn nói người đó thi thoảng vẫn về nhà. Cách đây không lâu người đó có báo nợ cho gia đình 1 khoản tiền khá lớn do vay nợ và đánh bạc. E mcó lên đặt vấn đề thì gia đình đó nói em cho vay nặng lãi trong khi lãi suất em ghi là 16%/ năm. E được biết người này có làm trương trình ca nhạc ở nhà người bạn em và cũng đã xù tiền không trả. Vậy xin luật sư cho em hỏi, với hành vi trên người này có bị khởi tố hay không và nếu khởi tố thì là luật dân sự hay hình sự với việc lợi dụng tín nhiệm tạo lòng tin để lừa đảo không?Vũ Hải Hòa (Hà Nội).

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Hoài Thương - Tổ tư vấn pháp luật hợp đồng của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

- Vấn đề tộicho vaynặng lãi.

Theo điều 163 Bộ luật hình sựcó quy định về tội cho vay nặng lãinhư sau:
"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.
2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

- Thứ nhất:Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 476 Bộ Luật Dân sự về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất cho vay gấp 10 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi.

- Thứ hai:Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặngnhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Về trường hợp của bạn đã nêu, hiện lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố là 9%/năm tức 0.75%/ tháng, lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận là 150% của lãi suất đó tức là không quá 1.125%/tháng, như vậy với mức lãi bạn cho vay 16%/năm tương đương với 1,33%/thángsẽ không bị truy tố với tội danh cho vay nặng lãi vì lãi suất đó không vượt quá 10 lần lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, lãi suất đó đã vi phạm quy định khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005, nếu người vay khởi kiện , Tòa có thể sẽ tuyên hợp đồng cho vay đó vô hiệu và sẽ áp dụng mức lãi suất tối đa đối với khoản vay đó là 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố.

- Vấn đề khởi kiện.

Điều140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
"1. Người nào có một trong những hành vi sau đâychiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốntriệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốntriệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn giandối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đóvào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Theoquy định tại khoản 1 điều 140 trên quy định thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việcViệc chuyển giao tài sản từ người cho vaysang người vayxuất phát từ một hợp đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản.Sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý,về thủ gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.Như vậy với trường hợp của bạn thìngười bạn đã cho vay 75 triệuhai bên có xác lập một hợp đồng vay tài sản và bên vay còn đưa giấy xác nhận lương và hợp đồng vaycho bạn để làm tin là sau 1 thángsẽvay ngân hàng trả tiền cho bạnnhưng sau 1 tháng người vay vẫn không thực hiện vay ngân hàng và trả tiền vay cho bạn điều này cho thấy bên vay đã lạm dụng sự tin tưởng của bạn để xác lập một hợp đồng vay tài sản sau đó đã dùng thủ đoạn gian dối ,bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hơn nữa số tiền vay là 75 triệu đồngnên khi khởi tố ngừoi này sẽ phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản do luật hình sự quy định .Với khoản vay 75 triệu thì người vay khi bạn khởi kiện sẽ phải chịu mức phạt quy định tại điểm d khoản 2 điều 140 bộ luật hình sự quy định như sau:
"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từnăm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng".

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.