Quy định về trường hợp giữ lương khi người lao động tự ý nghỉ việc

Trong trường hợp người lao động có viết đơn nghỉ nhưng chưa chờ duyệt đơn mà nghỉ luôn thì trường hợp này tính là tự ý nghỉ việc không xin phép

Khi người lao động tự ý bỏ việc mà không viết đơn xin nghỉ thì có thể áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Tuy nhiên, chỉ được sa thải khi người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Quy định về hình thức kỷ luật sa thải

Bộ luật lao động năm 2012 đã quy định về các trường hợp áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đó là:

1-Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2-Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

3-Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật lao động;

4-Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Theo Khoản 3, khi lao động nghỉ quá 5 ngày/1 tháng mà không có lý do chính đáng thì Công ty có quyền sa thải người lao động. Khi đã sa thải là trường hợp chấm dứt trường hợp lao động theo quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động nên không áp dụng quy định thời hạn báo trước. Chỉ yêu cầu bồi thường về thời hạn báo trước đối với trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng. Nếu công ty không ra quyết định sa thải mà người lao động vẫn tiếp tục nghỉ như thông báo nghỉ việc trước đó, lúc này công ty mới có quyền yêu cầu bồi thường về thời hạn báo trước và được bồi thường nửa tháng tiền lương theo quy định Khoản 1 Điều 43 Bộ luật lao động.

Quy định về việc tạm giữ lương khi sa thải người lao động

Về việc tạm giữ lương chỉ được thực hiện không quá 30 ngày kể từ ngày có Quyết định sa thải, theo quy định tại Khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng:

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Nếu chưa có Quyết định sa thải mà công ty giữ lương của người lao động đến khi người lao động hoàn thành bàn giao công việc. Hành vi này rất có thể bị người lao động cho rằng là chậm trả lương, có khả năng bị phạt hành chính và trả lãi lương chậm trả. Trong trường hợp này, đến ngày nhận lương công ty nên gửi thông báo người lao động đến nhận đồng thời thông báo về khoản bồi thường trách nhiệm vật chất (có thể được khấu trừ vào tiền lương) do những thất thoát trong công việc, theo quy định Điều 130 Bộ luật lao động 2012:

-Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

-Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Luật gia Nguyễn Thị Tâm - Phòng tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật TNHH Everest,tổng hợp.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail:[email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.