Học sinh chung sống như vợ chồng có vi phạm pháp luật?

Tư vấn pháp luật: Học sinh chung sống như vợ chồng có vi phạm pháp luật của công ty Luật TNHH Everest nhằm phổ biến kiến thức pháp luật.

Hỏi: Hiện nay, nhiều cặp nam nữ sinh viên (thậm chí là học sinh) chung sống với nhau như vợ chồng. Dưới góc độ pháp luật, đề nghị luật sư giải đáp, việc này vi phạm pháp luật không? (Nguyễn Thị Lan - Thái Nguyên)
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Dư Hồng Nhung - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Về quyền con người đã được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013:“1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14). Hiểu một cách đơn giản: công dân có thể làm những gì làm luật pháp không cấm, hoặc không điều chỉnh đến.

Liên quan tới vấn đề bạn hỏi, pháp luật không có quy định: nam nữ phải đáp ứng điều kiện như thế nào thì mới được chung sống với nhau như vợ chồng. Do đó, nam nữ tuy không phải là vợ chồng, nhưng chung sống với nhau như vợ chồng, hoặc có quan hệ tình dục với nhau (nói chung) là không trái pháp luật.
Tuy nhiên, một số trường hợp nhất định vì đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, việc nam nữ không phải là vợ chồng nhưng chung sống với nhau như vợ chồng bị pháp luật hạn chế, thậm chí bị coi là hành vi vi phạm pháp luật, ví dụ:

Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS) quy định:
Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng:“Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng... thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm” (khoản 1 Điều 147).

“Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” (khoản 4 Điều 112).

Tội giao cấu với trẻ em: “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm” (khoản 1 Điều 115).

Tội lây truyền HIV cho người khác: “Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm”.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm