Có đòi lại được sổ đỏ khi đã cho mượn để làm hợp đồng vay tiền?

Dùng sổ đỏ để thực hiện hợp đồng vay tiền, khi mất thì phải xin cấp lại.

Hỏi: Mẹ tôi có cho người bạn của tôi mượn sổ đỏ để vay vốn làm ăn, trong giấy tờ mẹ tôi có ghi cho chị O mượn sổ đỏ để vay tiền và ký tên (Không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có công chứng). Sau đó chị O cầm sổ đỏ của mẹ tôi đi thế chấp và vay của anh A số tiền là 230 triệu đồng (có giấy ghi nợ viết tay). Do làm ăn thua lỗ nên chị O không có khả năng trả nợ cho các chủ nợ và ngân hàng, vợ chồng chị O cũng đã ly hôn. Sau khi ly hôn, phần nợ của chị O mượn sổ đỏ của mẹ tôi vay của anh A (230 triệu) đã được Tòa án phân xử bằng cách bán nhà của chị O để trả cho các chủ nợ, riêng sổ đỏ của mẹ tôi cho chị O mượn để vay tiền Tòa án không đưa vào nội dung bản án mà chỉ tuyên chị O có trách nhiệm trả hết tiền cho anh A (Người đã cho chị O vay tiền). Tuy nhiên, số tiền bán nhà không thể trả đủ cho các chủ nợ được, vì vậy đến nay anh A (người đang giữ sổ đỏ của mẹ tôi) vẫn chưa trả lại sổ đỏ cho mẹ tôi. Xin Luật sư tư vấn giúp làm cách nào để mẹ tôi có thể lấy lại được sổ đỏ từ anh A (Vũ Hải Nam - Hà Nội).

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Vương Tùng Anh - Tổ tư vấn pháp luật doanh nghiệp của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

- Theo điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định tài sản:

"Điều 163. Tài sản. Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản"

Theo quy định này thì ngoài “Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” ra, thì đều không phải là tài sản. “Giấy tờ có giá” quy định trong Điều 163 BLDS là giấy vay tiền, giấy nhận nợ, giấy công trái, giấy cổ phiếu. Nếu các giấy tờ này bị mất, thì chủ sở hữu các giấy tờ này cũng mất luôn căn cứ để đòi lại tiền.

Do đó sổ đỏ không phải là giấy tờ có giá trị như quy định trong Điều 163 BLDS nên sổ đỏ không phải là tài sản. Do sổ đỏ không phải là tài sản nên việc đòi lại sổ đỏ cũng không phải là tranh chấp tài sản. Nếu đơn khởi kiện xác định sổ đỏ là tài sản, yêu cầu Tòa án giải quyết thì việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người đã gửi đơn khởi kiện là đúng với quy định tại điểm e khoản 1 điều 168 Bộ Luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Vì vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Thực tế, việc Chủ hiệu cầm đồ nhận cầm cố sổ đỏ không chính chủ là trái với quy định của pháp luật. Theo đó hướng giải quyết tốt nhất là tới UBND xã, phường trình báo về việc mất sổ đỏ

Thủ tục cấp lại sổ đỏ đã mất: Gia đình anh (chị) phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất sổ đỏ để Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết thông báo mất sổ đỏ tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã (trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn). Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo mất sổ đỏ tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã mà vẫn không tìm được sổ đỏ thì bạn nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận gửi tới Văn phòng đăng ký đất đai. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bị mất gồm có: +) Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; +) Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất (đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất); lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bạn nộp hồ sơ hợp lệ Văn phòng đăng ký đất đai sẽ cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bạn.

Khuyến nghị:

1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]

2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hợp đồng mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.

3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.