Cách tính tiền lương trợ cấp thôi việc?

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Hỏi: Em hiện nay đang làm tại 01 công ty và có đóng bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội. Lúc đầu lương của em là 06 triệu, sau đó công ty làm ăn khó khăn nên có cắt giảm nhân sự và cắt giảm lương nhân viên. Lương của em 02 tháng nay bị đẩy xuống còn 04 triệu. Vậy nếu bây giờ em viết đơn xin nghỉ việc thì lương trợ cấp thôi việc của em là bao nhiêu? Đề nghị Luật sư tư vấn, về vấn đề trên? (Trần Phương - Nghệ An)
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Đào Thị Thu Hường - Tổ tư vấn pháp luật lao động - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Hiện tại bạn muốn chấm dứt hợp đồng lao động với công ty thì phải thực hiện theo đúng thủ tục được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 và trợ cấp thôi việc được tính theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012.

- Bộ luật lao động năm 2012 quy định:
"Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước: a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này; b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này; c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này" (khoản 2 Điều 37).
"Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này" (khoản 3 Điều 37).
“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc” (Điều 48).

Như vậy, trong trường hợp anh (chị) chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định của pháp luật trong những trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 48 nêu trên, anh (chị) sẽ được nhận trợ cấp thôi việc. Và tiền lương để tính trợ cấp thôi việc của anh (chị) trong trường hợp này sẽ là tiền lương bình quân 06 tháng liền kề trước khi bạn nghỉ việc. Nghĩa là anh (chị) có 2 tháng làm việc được 4 triệu và trước đó lương của bạn là 6 triệu thì tiền lương tính trợ cấp thôi việc là: (4+4+6+6+6+6)/6 = 5,3 (triệu).

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.