Chấm dứt hợp đồng lao động khi không được trả lương đúng thỏa thuận

Người lao động làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn khi không được trả lương đầy đủ hoặc không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao độn

Hỏi: Chị H làm việc tại công ty A loại hợp đồng xác định thời hạn. Tuy nhiên hàng tháng chị H lĩnh lương bị trễ hơn so với thời gian ghi trong hợp đồng lao động. Do đó qua 03 tháng làm việc chị H quyết định gửi đơn xin nghỉ việc và sau 03 ngày chị H đã chấm dứt hợp đồng lao động. 1. Cho hỏi chị H chấm dứt hợp đồng lao động là đúng hay sai ? Tại sao? 2. Căn cứ các quy định pháp luật hiện hành thì trường hợp chị H giải quyết như thế nào để có lợi nhất cho chị H. (Võ Hùng - Yên Bái)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198  Luật gia Nguyễn Thanh Hương - Tổ tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thanh Hương - Tổ tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Thứ nhất, chị H đơn phương chấm dứt hợp đồng là đúng pháp luật. Căn cứ:

Điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động, theo đó, người lao động làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn khi không được trả lương đầy đủ hoặc không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động và phải báo trước cho người lao động biết trước ít nhất 3 ngày làm việc.

Thứ hai, khi chấm dứt hợp đồng thì chị H sẽ được hưởng trợ cấp thôi việckhi làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Căn cứ:

Điều 48 Bộ luật Lao động 2012 quy định:

“ 1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.