Các đồng thừa kế có đươc quyền đòi lại tài sản khi hết thời hiệu khởi kiện không?

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

Hỏi: Bà nội tôi đã mất 1989, còn ông tôi mất ngày 08/02/2007 dương lịch. Khi ông tôi mất thì sổ đỏ vẫn đứng tên ông tôi. Sau này, bố tôi mới làm lại sổ đỏ do ông tôi đã mất, sổ đỏ đứng tên bố tôi. Nhưng lúc ông tôi mất thì không có di chúc để lại toàn bộ mảnh đất ấy cho bố tôi (không có ai làm chứng là ông tôi để lại đất cho bố tôi) Hiện tại, các bác trong nhà đang có yêu cầu chia lại mảnh đất thành 7 phần hoặc yêu cầu bố tôi cho xây dựng từ đường trên nửa phần đất còn lại.Theo tôi được biết thì nếu bây giờ các bác tôi khởi kiện về quyền thừa kế thì vẫn còn hiệu lực vì ông tôi chưa mất được 10 năm. Bố tôi có 2 người con là tôi và em gái tôi. Đề nghị luật sư tư vấn nếu bây giờ nhà tôi đồng ý cho xây dựng từ đường trên một phần đất rồi đợi đến khi qua 08/02/2017 thì bố tôi có quyền định đoạt toàn bộ mảnh đất ấy không? Có quyền bán cho người khác hoặc để lại di chúc cho 2 chị em tôi không? Nhưng tôi không hiểu khi hết quyền khởi kiện quyền thừa kế thì vẫn có quyền khởi kiện phân chia tài sản chung? Vậy văn phòng luật sư có thể giải thích giúp tôi chỗ này ko? có phải là khi qua ngày 08/02/2017, nếu các bác tôi vẫn khởi kiện phân chia tài sản chung thì mảnh đất ấy có bị chia thành 7 phần không? Văn phòng luật sư có thể tư vấn giúp tôi để làm sao bố tôi là người sở hữu hợp pháp mảnh đất này được không? Vì trước đó do bố tôi nuôi ông nên mọi người ngầm hiểu là đất ấy là của nhà tôi, nhưng giờ họ lại muốn chia lại? (Thành Hưng - Bắc Ninh)
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Hồng Ngọc - Tổ tư vấn pháp luật dân sự Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

Bộ luật dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật bao gồm: "1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản" .(Điều 651)

Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi ông bà nộịi anh/chị mất 7 người con của ông bà sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất, nhưng những người con đó phải còn sống trước thời điểm mở thừa kế, theo đó những người này sẽ có quyền thực hiện quyền yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình.

- Về thời hiệu khởi kiệna kế: "1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế". (Điều 623 Bộ luật dân sự 2017)

Ông nội anh/chị mất vào tháng 02/2007, vì vậy đến nay vẫn còn thời hiệu để khởi kiện thừa kế. Vậy mảnh đất trên hiện nay những người con của ông nội anh/chị hoàn toàn có thể khởi kiện để chia thừa kế đối với mảnh đất này. Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 30 năm.Sau 30 năm kể từ ngày người để lại di sản mất thì những người có quyền thừa kế không còn quyền khởi kiện đòi chia di sản thừa kế.

Hiện nay mảnh đất đó do bố anh/chị đã đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc bố anh làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu như không có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu( những người đồng thừa kế) là trái với quy định của pháp luật. Mặc dù bố anh/chị đã đứng tên trên GCNQSDĐ nhưng những người cùng thừa kế vẫn còn thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.Và di sản của ông anh/chị để lại sẽ là tài sản chung chưa chia của các đồng thừa kế. Bố anh/chị chỉ được xác lập quyền sử dụng với một phần mảnh đất này. Những người con cũng có quyền sử dụng đối với phần đất mà họ được hưởng thừa kế.

Theo đó từ ngày 01/01/2017 đối với thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế sẽ là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản. Vậy trong trường hợp của anh/chị đến 08/02/2017 thì các con của ông anh/chị vẫn hoàn toàn có thể khởi kiện ra Toà án để đòi chia di sản thừa kế (mảnh đất của ông anh/chị để lại).

Trong trường hợp này khi vẫn còn trong thời hiệu yêu cầu chia thừa kế, bố anh/chị nên thoả thuận với các bác lại việc chia tài sản của ông bà nội và tính đến các yếu tố có lợi nhất cho mình như: bố anh/chị đã phụng dưỡng ông bà... để có lợi nhất cho mình. Nếu không khi không thoả thuận được mà một trong những người có quyền thừa kế yêu cầu ra Toà án giải quyêt, lúc đó việc chia di sản đó sẽ áp dụng theo các quy định của pháp luật có thể lợi ích mà bố anh/chị được hưởng sẽ không được nhiều so với việc các bên tự thoả thuận với nhau.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật dân sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.