Tư vấn về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây: Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động...

Hỏi:Tôi vào làm việc tại Trung tâm khuyến công tỉnh Đắc Nông theo dạng hợp đồng có thời hạn và ký hợp đồng lao động là 36 tháng kể từ ngày 17/04/2014 đến ngày 17/04/2017. Nhưng nay vì lý do cơ quan không đủ khả năng chi trả lương nên đơn phương chấm dứt hợp đồng và nói miệng vào ngày 07/08/2015 và thông báo sẽ giải quyết đơn cho nghỉ việc vào ngày 15/09/2015 nhưng chưa có giấy tờ hay biên bản gì cả. Tôi có thể đòi những quyền lợi gì khi cơ quan tôi đơn phương chấm dứt hợp đồng?
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Dương Thị Hải Yến -Tổ tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, thì:“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này”.Và Điều 41 Bộ luật lao động 2012 cũng quy định:“Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này”.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, công ty chỉ lấy lý do là không có khả năng chi trả lương mà không có thêm thông tin nào khác nên không thuộc bất kỳ trường hợp nào tại khoản 1 Điều 38 và áp dụng Điều 41 thì công ty đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Vì vậy, theo Điều 42 Bộ luật lao động, bạn được hưởng những quyền lợi sau: "1 - Được nhận trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và được trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.2 - Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường trên, bạn được trả trợ cấp thôi việc khi đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.3 - Trường hợp công ty không muốn nhận lại bạn và bạn đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường ở mục 1 và trợ cấp thôi việc ở mục 2, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.4 - Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà bạn vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường ở mục 1, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động”.

Về thời hạn thông báo, khoản 2 Điều 38 quy định người sử .dụng lao động phải thông báo trước ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng xác định thời hạn. Do đó, việc công ty bạn báo trước 49 ngày (từ ngày 7/8/2015 đến 15/9/2015) là đúng pháp luật.

Thứ hai, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình, bạn có thể gửi khiếu nại đến công ty yêu cầu họ giải quyết trường hợp của mình. Nếu công ty không thực hiện đúng như quy định của pháp luật thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu đến hòa giải viên lao động (Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội) hoặc trực tiếp gửi đơn yêu cầu đến Tòa án cấp tỉnh gải quyết yêu cầu về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 200 Bộ luật lao động 2012.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.