Tư vấn pháp luật: điều kiện nhận bảo hiểm thất nghiệp

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:...

Hỏi: Tôi có thời gian công tác đến tháng 6/2016 là 30 năm 8 tháng. Tôi được Công ty giới thiệu đi giám định y khoa và có kết luật 61% từ 01/07/2016. Tôi đã có quyết định nghỉ việc từ 01/7/2016 và đã chốt sổ bảo hiểm xã hội. Tôiđangđịnhđi làm chếđộ thất nghiệp và sau khi hưởng thất nghiệp xong thì làm chếđộ hưu trí. Vậy anh/chị hướng dẫn xem cóđược khôngvà sau khi hưởng thất nghiệp xong làm chếđộ lương hưu thì cần những giấy tờ gì? (Phạm Vinh - Thái Bình)
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phạm Thị Mai Phương - Tổ tư vấn pháp luật lao động Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Nếu như bác đã đủ tuổi hưởng lương hưu thì bạn sẽ không được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại điểm b, khoản 1, điều 49 Luật việc làm 2013 nhưng nếu như bác chưa đủ tuổi hưởng lương hưu thì bác có thể làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp trước khi hưởng lương hưu.

Về bảo hiểm thất nghiệp

Theo quy định tại điều 49 Luật việc làm 2013 về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp:

"Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này..".

Do bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc phải đóng từ 1/1/2009 nên đến thời điểm 1/7/2015 bác đã đóng được 6 năm 7 tháng bảo hiểm thất nghiệp. Do vậy bác sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp 9 tháng.

Tuy nhiên, để hưởng bảo hiểm xã hội thì bác sẽ phải tuân thủ những điều kiện nhất định. Và chế độ bảo hiểm của bác sẽ dừng lại khi bác tìm được công việc mới theo giới thiệu của Trung tâm giới thiệu việc làm hoặc khi bác được hưởng lương hưu. Quyết định thôi việc là giấy tờ bác cần có để hoàn thiện hồ sơ xin hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Về thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp bác có thể tham khảo trong bài viết sau "Tư vấn về thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp".

Về chế độ hưởng lương hưu

Việc bác có giấy giám định y khoa với mức suy giảm khả năng lao động 61% là điều kiện để bác được nghỉ hưu sớm theo quy định tại điều 51 Luật bảo hiễm xã hội 2006 mà không bị giảm trừ lương hưu nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định điều này:

"Điều 51. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động:Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:1. Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên;2. Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành".

Về thủ tục hưởng lương hưu bác có thể tham khảo trong bài viết "Tư vấn hưởng lương hưu do suy giảm sức khỏe 61%"

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.