Quyền sử dụng đất có thể làm vốn góp thành lập doanh nghiệp ?

Việc anh góp vốn bằng quyền sử dụng đất, là hoàn toàn hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Tôi và 3 người khác thỏa thuận góp vốn thành lập công ty cổ phần, tổng số vốn góṕp dự tính là 1.000.000.000 đồng (một tỉ đồng), theo thỏa thuận tôi sẽ đóng góp 30% tổng vốn góp tương đương 300.000.00 đồng (ba trăm triệu), tuy nhiên do chưa có tiền mặt nên tôi có ý định muốn thay phần vốn góp bằng tài sản là quyền sử dụng đấtđất. Xin Luật sư cho biết, tôi góp vốn bằng quyền sử dụng đất có được không? (Nguyễn Đăng Nhật - Thái Bình)
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Văn Anh - Tổ tư vấn pháp luật doanh nghiệp Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Điều 35 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định về tài sản góp vốn như sau:

“1. Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.
2. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn”.

Như vậy, việc anh góp vốn bằng quyền sử dụng đất là hoàn toàn hợp lệ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên quyền sử dụng đất mà anh dự tính góp vốn, phải đảm bảo giá trị tương đương với phần vốn góp anh cam kết.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.