Quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

Hỏi: Vừa rồi đây em có mua một lô đất là 535 m2 trong đó có 400m2 thổ cư và 135m2 là cây trồng lâu năm với giá 500tr. Trên mảnh đất có 40m2 là chỉ giới quy hoạch giao thông đường . Em đã đặt cọc số tiền là 200 tr. Nhưng một tháng sau ra sổ hồng thì trên mảnh đất của em bị chỉ giới quy hoạch giao thông là 300m2.Trước khi mua em chỉ biết là 40m2 nhưng tới khi ra sổ của e thì bị mất 300m2 .như vậy em muốn không mua mảnh đất đó nữa có được không và em chịu phí sang tên lại cho bên chủ bán đất có được không hay phải mất 200 tr tiền đặt cọc đó. Bây giờ mảnh đất đó đã qua tên của em rồi như vậy em có bị đền bù gì hay có thể khiếu kiện bên bán vì đã giấu em về việc quy hoạch 300m2 đó không? (Huy Đạt - Hà Nội)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Bảo An- Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest- trả lời:

Khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"2.Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật".

Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

"3.Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này".

Theo các quy định trên, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua bán đất đai) thì bắt buộc phải công chứng tại cơ quan có thẩm quyền.

Bạn nói là sau khi làm thủ tục chuyển nhượng đất bạn mới biết là có sự chênh lệch về chỉ giới giao thông đường bộ. Trong trường hợp này nếu bên bán biết được có sự tăng lên đó mà không chobạn biết lúc làm thủ tục giao kết hợp đồng thì như vậy bên bán đã lừa dối bạn và theo quy định tại Điều 132 Bộ luật dân sự

Điều132 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định vềGiao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa như sau:

"Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình".

Điều137 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định vềHậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

"1.Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2.Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Như vậy trong trường hợp của bạn nếu bị bên bán lừa dối giao dịch dân sự thì hợp đồng dân sự đó coi như là vô hiệu và bạn , bên mua phải thanh toán những gì đã nhậncho nhau. Cụ thểlà bạn sẽ đi làm lại thủ tục để trả lại đất cho bên bán vì trên giấy tờ mảnh đất đó đã là của bạn rồi, và bên bán phải trả lại số tiền ban đã đưalà 200 triệu. nếu bên bán không thực hiện thì bạn có quyền nhờ Tòa án đứng ra giải quyết tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.