Cách tính chế độ trợ cấp thôi việc

Điều 48 Bộ luật Lao động quy định về nghĩa vụ trợ cấp thôi việc của người sử dụng lao động cho người lao động.

Hỏi: Tháng 2 năm 1979 Tôi bắt đầu làm việc và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ đó đến nay. Đến nay tôi đã chuyển công tác 3 nơi. Hiện tại cơ quan làm thủ tục chấm dứt hợp đồng cho tôi chỉ tính chế độ chấm dứt hợp đồng cho nhưng năm làm việc tại đơn vị sau cùng là 11 năm (Đơn vị tính 5,5 tháng lương trợ cấp) hệ số lương của hiện tai của tôi là 4,99 còn những thời gian làm việc ở đơn vị khác trước đó không tính. Đề nghị Luật sư tư vấn cách tính như vậy có đúng không? (Hoạch Hiền - Hà Nội)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198.
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198.

Luật gia Lưu Thị Ngọc Anh - Tổ tư vấn pháp luật lao động Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Người lao động được trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng trong những trường hợp sau: "Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Điều 48 Bộ luật Lao động quy định về nghĩa vụ trợ cấp thôi việc của người sử dụng lao động cho người lao động như sau: "Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc".

Như vậy, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc cho bạn là thời gian bạn làm tại cơ quan cuối cùng trừ đi thời gian bạn đóng bảo hiểm thất nghiệp. Trong thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi không ghi số năm bạn đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nên chúng tôi không tính cụ thể thời gian để tính trợ cấp thôi việc cho bạn được. Vấn đề này bạn có thể hỏi rõ lại công ty. Tuy nhiên, từ năm 2009, việc đóng bảo hiểm thất nghiệp là bắt buộc. Nếu từ năm 2009 mà công ty bạn không đóng bảo hiểm thất nghiệp cho bạn thì công ty bạn đã vi phạm Luật Bảo hiểm xã hội và sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6218, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.