Ủy quyền bán bất động sản khi đang ở nước ngoài?

Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

Hỏi: Vợ chồng tôi ở nước ngoài, mà có một bất động sản ở Việt Nam. Bây giờ muốn bán đi để đầu tư làm ăn ở nước sở tại. Nhưng vì lý do mà vợ tôi không thể về Việt Nam được. Vậy thủ tục uỷ quyền của vợ tôi được làm như thế nào? Cần những giấy tờ gì liên quan để công chứng uỷ quyền tại đại sứ quán tại nước ngoài? (Nguyễn Kim - Hà Nội)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Bùi Ánh Vân - Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Điều 581.Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hợp đồng uỷ quyền như sau:

"Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác."

Như vậy, vợ chồng bạn có thể lập hợp đồng ủy quyền hoặc viết giấy ủy quyền để ủy quyền bán bất động sản ở Việt Nam cho người khác tại Việt Nam. Để được công chứng tại đại sự quán vợ chồng anh chị cần chuẩn bị những giấy tờ sau:

1. Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của bên ủy quyền (cả vợ và chồng)

2. Hộ khẩu của bên ủy quyền (cả vợ và chồng)

3. Giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân của bên ủy quyền (Đăng ký kết hôn)

4. Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản

5. Hợp đồng uỷ quyền có nội dung ủy quyền lại (Nếu có)

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.