Số vốn điều lệ tối thiểu đối với Công ty cung cấp dịch vụ đòi nợ thuê?

Mức vốn pháp định đối với ngành nghề kinh doanh dịch vụ đòi nợ là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Trong suốt quá trình hoạt động, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ phải duy trì mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định.

Hỏi: Tôi đang có ý định thành lập Công ty cung cấp các dịch vụ đòi nợợ thuê. Hình thức doanh nghiệp có thể Công ty TNHH 01 thành viên hoặc công ty TNHH 02 thành viên. Đề nghị Luật sư tư vấn, tôi phải đăng ký số vốn điều lệ tối thiểu là bao nhiêu? (Quang Anh)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Lương Thị Anh Thư - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo quy định tại khoản 29 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp 2014 thì:“Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.

Trên thực tế, pháp luật Doanh nghiệp hiện hành chưa có quy định cụ thể nào về mức vốn điều lệ tối thiểu. Tuy nhiên, đối với ngành nghề kinh doanh của anh (chị), pháp luật có quy định về vốn pháp địnḥnh Điều 13 Nghị định 104/2007/NĐ-CP, ngày 14/06/2012 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ như sau: “Mức vốn pháp định đối với ngành nghề kinh doanh dịch vụ đòi nợ là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Trong suốt quá trình hoạt động, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ phải duy trì mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định.”.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì vốn điều lệ của Công ty đòi nợ thuê không được thấp hơn mức vốn pháp định là 2 tỷ đồng.


Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.