Luật sư tư vấn: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,

Hỏi:Tôi đang làm cho công ty nước ngoài ở Bà Rịa Vũng Tàu và đang làm việc theo hợp đồng lao động vô thời hạn. Vào ngày 2/10/2016, tôi đã nộp đơn thôi việc, đơn phương chấm dứt hợp đồng với công ty.Tôi xác nhận ngày tôi kết thúc làm việc với công ty là ngày 17/11/2016 theo Điều 37 bộ luật lao động nhưng phòng nhân sự không đồng ý và yêu cầu tôi phải xác nhận kết thúc ngày làm việc với công ty phải là ngày 27/11/2016.Hiện tại tôi còn 5 ngày phép năm với công ty.Nếu tôi nghỉ trước 5 ngày mà không có sự đồng ý của cấp trên thì tôi sẽ bị xét vào mục sa thải đúng không? Theo quy định tạikhoản 1Điều 43 BLLĐquy định việclà bị phạt nửa tháng lương thì có áp dụng cho trường hợp tôi nghỉ trước 4 ngày không (tôi nghỉ trước 4 ngày : 24,25,26,27 tháng 11)? (Thu Trang - Vũng Tàu)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phạm Thị Mai Phương - Tổ tư vấn pháp luật lao động Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Chúng tôi xin đính chính lại về khái niệm dạng hợp đồng, hiện tại chỉ có pháp luật chỉ quy định về hợp đồng lao động không xác định thời hạn mà không đưa ra khái niệm về hợp đồng vô thời hạn.

Khoản 3 Điều 37 BLLĐ quy định: "3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Như vậy, nếu không thuộc trường hợp nghỉ khi phụ nữ có thai và có chỉ định của bác sĩ, bạn phải có nghĩa vụ báo trước cho NSDLĐ trước ít nhất 45 ngày làm việc (ngày làm việc được xác định từ thứ 2 đến thứ 7). Bạn căn cứ vào quy định này để tính thời gian báo trước và xác định ngày kết thúc công việc.

Theo quy định tại Điều 111 BLLĐ, nghỉ hằng năm là quyền lợi của người lao động của người lao động được nghỉ và hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động dựa trên điều kiện làm việc, thời gian đã làm việc trong năm và thâm niên làm việc cho một NSDLĐ (Điều 112 BLLĐ). Khi chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động, NLĐ được thanh toán khoản tiền nghỉ hằng năm này. Trong trường hợp điều lệ công ty có quy định: "người lao động sẽ được công ty bố trí cho nghỉ trước thời hạn tính theo số ngày phép năm còn dư hoặc là sẽ được công ty thanh toán bằng 100% lương cho mỗi ngày phép." Quy định này thể hiện người lao động có quyền lựa chọn về việc hưởng quyền lợi nghỉ phép năm và có lợi hơn cho người lao động, theo quy định này, bạn có quyền dùng 5 ngày nghỉ phép năm còn lại để nghỉ trước thời hạn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 126:

"3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động." Việc bạn nghỉ việc trước thời hạn là do hưởng quyền lợi nghỉ phép năm chứ không phải tự ý nghỉ việc, do đó không thuộc trường hợp sa thải.

Theo quy định tại Điều 43 BLLĐ:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Bạn thôi việc theo trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và việc nghỉ phép của bạn là đúng theo quy định của công ty, do đó không thuộc trường hợp thôi việc trái pháp luật. Như vậy, bạn không phải chịu bồi thường nửa tháng tiền lương theo quy định tại khoản 1 Điều 43 BLLĐ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.