Không chốt được sổ bảo hiểm cho người lao động do làm mất sổ người lao động có được khởi kiện công ty?

Công ty sẽ có trách nhiệm trả lại sổ Bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng với quy định.

Hỏi: Công ty tôi làm mất sổ của người lao động, do người lao động xin nghỉ vào đầu tháng 3/2016 và vào cuối tháng 3/2016 công ty tôi mới làm đơn cấp lại sổ lao động. Do thủ tục bị sai nên phải nộp lại, Bảo hiểm xã hội hẹn tháng 7 mới trả lại sổ, do quá 3 tháng thì người lao động không được hưởng Bảo hiểm thất nghiệp. Đề nghị Luật sư tư vấn, vậy người lao động có quyền kiện công ty chúng tôi không? Trong trường hợp này chúng tôi có phải bồi thường gì cho người lao động không? Và nếu phải bồi thường thì ai sẽ phải bồi thường? (Lê Lương - Bắc Ninh)


Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phùng Thị Huyền - Tổ tư vấn pháp luật lao động Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo thông tin mà anh (chị) cung cấp thì trường hợp trên, người laođộngđó không xin nghỉ theođúng quyđịnh. Như vậy làđơn phương chấm dứt hợpđồng laođộng trái pháp luật.

Theo Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. 2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. 3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này".

Như vậy, nếu người lao động nghỉ ngang không đúng với quy định của pháp luật, thì người lao động sẽ phải bồi thường cho công ty của anh (chị) một khoản tiền tương ứng với tiền lương những ngày không báo trước, không được hưởng trợ cấp thôi việc như theo quy định trên.

Theo Khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quyđịnh về trách nhiệm của người sử dụng lao động như sau:

"5. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật".

Theo Điều 47 Luật lao động năm 2014 có quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động. 2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. 3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. 4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán".

Căn cứ vào khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội và khoản 3 Điều 47 Bộ luật lao động thì công ty sẽ có trách nhiệm trả lại sổ Bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng với quy định.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 thì trong thời hạn 07 ngày làm việc hoặc tối đa 30 ngày làm việc người sử dụng lao động có trách nhiệm phải hoàn trả các khoàn liên quan đến quyền lợi của người lao động, trong đó có sổ Bảo hiểm xã hội. Chình vì vậy, do công ty của anh (chị) làm mất sổ Bảo hiểm xã hội của người lao động, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của họ, vì vậy, người lao động có quyền khởi kiện công ty anh (chị) bồi thường về khoản Bảo hiểm thất nghiệp họ đã không được nhận.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.