Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Hỏi:Tên tôi là N.T.Csinh ngày 15/6/1963 hiện đang cư trú tại thị trấn Thanh tỉnh PTtôi xin Luật sư tư vấn cho trường hợp tranh chấp của tôi như sau: Tôi đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Cty và có thời gian đóng BHXH bắt buộc từ 4/1985 đến nay. Ngày 14/4/2016 tôi làm đơn chấm dứt hợp đồng gửi lên Cty, ngày 28/6/2016 Cty gửi cho tôi một tờ đơn : "Đơn xin đi giám định sức khỏe về nghỉ chế độ". Đến nay Cty không giải quyết cho tôi chấm dứt hợp đồng theo Khoản 3 điều 37 Luật lao động năm 2012 mà lại bắt tôi đi giám định sức khỏe trước nếu mất .>61% sức khỏe thì ra Quyết định Nghỉ hưu. Đề nghị Luật sư tư vấn, công ty làm như vậy đúng hay sai? (Lê Hoan - Hà Nội)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198.
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198.

Luật gia Lưu Thị Ngọc Anh - Tổ tư vấn pháp luật lao động Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo như bác trình bày, hợp đồng hiện tại được ký kết giữa bác và công ty là hợp đồng không xác định thời hạn. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 37 BLLĐ 2012 thì bác có quyền được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Cụ thể:

Khoản 3 Điều 37 BLLĐ 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động như sau:

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này”.

Để đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng theo quy định của pháp luật, trước khi chấm dứt hợp đồng lao động thì bác cần báo trước cho người lao động ít nhất 45 ngày. Bác báo trước bằng cách gửi đơn xin thôi việc tới công ty.

Lưu ý: Khi nộp đơn, bác cần phía công ty xác nhận đã nhận đơn của bác. Nếu công ty không chịu xác nhận đơn này, bác có thể gửi qua đường bưu điện và ngày nhận đơn được xác định là ngày có dấu bưu điện nơi gửi. Như vậy, sẽ có căn cứ để chứng minh khi xảy ra tranh chấp.

Phía công ty bắt bác đi giám định sức khỏe trước nếu tỷ lệ suy giảm khả năng lao động trên 61 % thì sẽ hoàn thiện hồ sơ cho bác nghỉ hưu.

Điều 51.Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên;

2. Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành
”.

Hiện tại, bác đã bước sang tuổi 53, có trên 20 năm đóng bảo hiểm xã hội. Nếu kết quả giám định y khoa cho kết quả bác suy giảm khả năng lao động trên 61% thì phía công ty sẽ cho bác nghỉ hưu theo quy định tại điều 51 Luật bảo hiểm xã hội 2006 thì bác sẽ được nghỉ hưởng chế độ hưu trí.

Tuy nhiên, mong muốn của bác là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 37 BLLĐ 2012, nếu có đủ điều kiện nêu trên thì phía công ty phải có nghĩa vụ thanh lí hợp đồng cho bác; còn hành vi hiện tại của công ty là trái với quy định của pháp luật.

Bác gửi đơn và thực hiện như chúng tôi tư vấn, trong thời hạn 45 ngày bác vẫn phải lao động bình thường và sau 45 ngày nếu công ty không hoàn tất thủ tục cho bác nghỉ việc thì bác sẽ khiếu nại tới ban giám đốc; gửi đơn tới Sở lao động – thương bình & xã hội hoặc khởi kiện tại tòa án quận, huyện nơi công ty đóng trụ sở để giải quyết tranh chấp.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6218, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.