Chế độ trợ cấp thôi việc khi doanh nghiệp cổ phần hóa

Điều 48 Bộ luật Lao động 2013 quy định về vấn đề hưởng trợ cấp thôi việc.

Hỏi: Tôi làm việc tại công ty Nhà nước từ năm 1988 với chức danh phó giám đốc, năm 2009 công ty tôi cổ phần hóa, nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và tôi tiếp tục được Chủ tịch HĐQT bổ nhiệm làm phó giám đốc.Tháng 6/2014 tới đây công ty tôi đấu giá cổ phần và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Vậy Luật sư cho tôi hỏi sau khi doanh nghiệp tôi thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp tôi xin nghỉ thôi việc thì tôi có được thanh toán chế độ trợ cấp thôi việc hay không? (Nguyễn Hoàng - Hà Nội)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Đại Hải - Tổ tư vấn pháp luật doanh nghiệp của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

Tại Điều 48 Bộ luật Lao động 2013 quy định về vấn đề hưởng trợ cấp thôi việc như sau:

"1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc".

Khi chấm dứt hợp đồng lao động theo những trường hợp sau đây thì người lao động sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc tương ứng với mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương:

- Hết hạn hợp đồng lao động.

- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

- Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

- Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động do không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động; Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động; Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động; Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước; Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền; Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Theo đó, để được hưởng trợ cấp thôi việc bạn có thể tiến hành thỏa thuận thôi việc với người sử dụng lao động. Trong trường hợp bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì chỉ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng với những lý do như tôi đã trình bày ở trên thì bạn mới được hưởng trợ cấp thôi việc. Việc hưởng trợ cấp thôi việc là quyền lợi của người lao động và việc công ty thoái vốn hoặc hoặc có vốn Nhà nước không ảnh hưởng đến quyền lợi này.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.