Chế độ mai táng phí đối với người tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975 đã xuất ngũ

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này đang đóng BHXH; Người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH... khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng.

Hỏi: Bố tôi phục vụ trong quân đội từ năm 1976, tham gia chiến đấu và bảo vệ biên giới phía Bắc, xuất ngũ năm 1984. Năm 2007, ông bị bệnh rồi mất. Gia đình tôi đã được hỗ trợ một lần là 3,6 triệu đồng theo Quyết định 62/2011/QĐ-TTg của |Thủ tướng Chính phủ. Đề nghị Luật sư tư vấn, gia đình tôi có được hưởng trợ cấp mai táng phí, tử tuất nữa không? (Bùi Văn Nguyễn - Hòa Bình)

c

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật sư Phạm Ngọc Minh -Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198 - trả lời:

Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 09.11.2011 (về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chia, giúp bạn Lào sau ngày 30.04.1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc) quy định: “Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định này nếu chưa được hưởng chế độ BHYT thì được hưởng chế độ BHYT theo quy định của pháp luật về BHYT; khi từ trần người lo mai táng được hưởng chế độ mai táng phí theo quy định của pháp luật về BHXH hiện hành” (Điều 6).

Luật BHXH năm 2006 quy định:

“1. Các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng:
a) Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này đang đóng BHXH;
b) Người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH;
c) Người đang hưởng lương hưu; hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc” (khoản 1 Điều 63).

“1. Các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật này thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất hằng tháng:
a) Đã đóng BHXH đủ 15 năm trở lên nhưng chưa hưởng BHXH một lần;
b) Đang hưởng lương hưu;
c) Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
d) Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên” (khoản 1 Điều 64).

“Các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật này thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần:
1. Người chết không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này;
2. Người chết thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 64 nhưng không có thân nhân hưởng tiền tuất hằng tháng quy định tại khoản 2 Điều 64 của Luật này” (Điều 66).

Như vậy, gia đình anh chỉ thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp mai táng, tiền tuất nếu đáp ứng đủ điều kiện quy định tại các điều luật mà Chúng tôi viện dẫn trên.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật dân sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.