Tư vấn về việc đòi lại đất do chị tự ý đứng tên?

Ðiều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định người thừa kế theo pháp luật

Hỏi: Năm 1993 bố mẹ tôi được một nông trường quốc doanhnh sông bôi giao khoán sản đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng nămcho hộ gia đình, bố tôi đại diện chủ hộ ký kết hợp đồng thời hạn là 50 năm ,đến 1999 bố mẹ tôi có việc phải đi xa một thời gian nên đã gửi chị gáíi tôi là con ruột của bố mẹ tôi trông nom, cùng năm này nông trường quốc doanh sông bôi phá sản ,và một "công ty TNHH MTV sông bôi" vào tiếp quản công ty này tiến hành đo đạc lại diện tích đất ,công ty yêu cầu ký lại hợp đồng,trong khi này bố mẹ tôi không được biết và chị gái tôi đã thay mặt đại diện gia đình ký hợp đồng. Từ đó đến nay bố mẹ tôi vẫn sống và sử dụng đất đúng mục đích hàng năm vẫn đóng góp sản lượng đầy đủ. Năm 2014 bố ,mẹ ,tôi ,mới được biêt, tên chủ sử dụng đất đó đã được đổi thành tên chị gái tôi, không biết bằng cách nào chị gái tôi đã đơn phương đứng tên chủ thửa đất đó, bố tôi đã đòi chị gái tôi trả lại nhưng chị chỉ trả lại cho bố mẹ tôi 1/3 thửa đất, bố tôi là người đứng tên một phần nay, cùng năm 2014 này bố tôi lại lấy vợ lẽẽ nhưng lại làm giấy đăng ký kết hônôn với cô ta. Năm 2015 bố tôi bệnh nặng nay đã mất, thìngười vợ lẽ này đã tự quyền bán số diện tích đất mà chị gái tôi trả lại và bỏ đi. Còn chi gái tôi thì đuổi mẹ tôi vàtôi ra khỏi nhà nơi mà gia đình tôi vẫn ở để trông nom đất đai và cây cối. Vậy tôi xin hỏi mẹ tôi muốn làm đơn đòi chị gái tôi trả lại toàn bộ số đất mà 1993 nông trường quốc doanh sông bôi giao cho bố mẹ tôi có được không? (Hoàng Hà - Thái Nguyên)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phan Thùy Dung - Tổ tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Khoản 2 Điều 44 Nghị định123/2015/NĐ-CP quy định điều khoản chuyển tiếp:"2. Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng. Thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật Hộ tịch."

Ðiều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định người thừa kế theo pháp luật: "Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Thì bố mẹ bạn vẫn được xem là vợ chồng.Việc bố bạn đăng kí kết́t hôn với cô vợ lẽ là vi phạm pháp luật vì bố và mẹ bạn chưa ly hôn, nên cô vợ lẽ không có quyền và nghĩa vụ gì với mảnh đất đó.Năm 1999, nếu bố mẹ bạn ủy quyền cho chị gái bạn trông nom mảnh đất này có phần kí kết hợp đồng thì chị gái bạn chỉ được kí kết hợp đồng thay mặt cho bố mẹ bạn, còn người có quyền và nghĩa vụ vẫn là bố mẹ bạn.Vậy mẹ bạn có quyền lợi đối với mảnh đất đó dù cho bố mẹ bạn chưa đăng kí kết hôn.Vậy mẹ bạn có quyền viết đơnđòi lại phần đất mà đã ủy quyền cho chị bạn đứng tên trước đây, phần tài sản đứng tên trên 1/3 thửa đất và phần tài sản thừa kế từ bố bạn. Mẹ bạn có quyền khởi kiện cô vợ lẽ kia để đòi lại phần đất đó vì cô vợ lẽ không có quyền và nghĩa vụ đối với mảnh đất này.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.