Tư vấn pháp luật: Quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn?

Công ty Luật TNHH Everest tư vấn về quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn.

Hỏi: Hiện giờ thì tôi và chồng tôi mỗi người ở một nơi, tôi ở nhà mẹ tôi ở Thành Phố, chồng tôi ở Tiền Giang. Tôi có con được 2 tháng tuổi rồi, vì vậy quyền nuôi dưỡng thuộc về tôi có phải không? lúc đám cưới bên nhà trai không đưa tiền chợ cho nhà gái, theo kiểu nhà ai nấy lo vậy. Rồi ngày đám cưới nhà trai chỉ đưa qua tiền đồng và 1 số vàng cho nhà gái thôi, bây giờ tôi muốn ly hôn thì chồng tôi hỏi vàng đó, có ý muốn lấy lại. Vậy cho tôi hỏi, những thứ đó có được xem là của chung hay ko? có dùng làm tài sản phân chia hay không? (Nguyễn Hoa - Hà Nội)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Đại Hải - Tổ tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

Thứ nhất, về quyền nuôi con khi hai vợ chồng bạn li hôn vào thời điểm này con bạn được 2 tháng tuổi.

Theo Khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000quy định về quyền nuôi con khi ly hôn như sau:Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác”.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, vì con của hai bạn hiện mới chỉ được 2 tháng tuổi, nên về nguyên tắc, bạn sẽ là người nuôi con nếu hai vợ chồng bạn không có thỏa thuận gì khác. Và chồng bạn sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng để nuôi đứa trẻ, do chồng bạn không trực tiếp nuôi con.

Ngoài ra, cũng xin lưu ý thêm với bạn một điểm đó là: Do điều kiện 2 bạn có con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, nên chồng của bạn không có quyền yêu cầu xin ly hôn, dựa trên quy định tại Khoản 2 Điều 85 Quyền yêu cầu Tòa giải quyết việc li hôn Luật HN&GĐ 2000.

Thứ hai, về vấn đề tranh chấp tài sản phát sinh khi li hôn của hai bạn, cụ thể ở đây là phần tài sản bao gồm tiền mặt và số vàng mà gia đình nhà trai đã đưa cho nhà gái trong ngày cưới. Liên quan đến vấn đề này, về nguyên tắc, Luật HN&GĐ 2000 quy định như sau:“Điều95. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn1.Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó…”.

Do chúng tôi không nắm được cụ thể số tài sản trên gia đình chồng bạn đưa cho gia đình bạn trong ngày cưới là giao riêng cho gia đình của bạn (không bao gồm bạn) làm lễ vật hay là giao cho bạn, nên chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong trường hợp 2 bạn thỏa thuận được, thì phần tài sản đã nêu trên được phân chia dựa trên sự thỏa thuận của hai bạn. Trong trường hợp hai bạn không thỏa thuận được, có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi đó, nếu có căn cứ để chứng minh số tài sản nêu trên là số tài sản nhà trai đã tặng cho cho bạn hoặc gia đình bạn, thì đó được xác định là tài sản riêng của bạn hoặc gia đình bạn, bạn không cần phải trả lại, do tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó. Ngược lại, nếu không có căn cứ để chứng minh, thì số tài sản trên sẽ được chia đôi cho hai vợ chồng bạn (do là tài sản chung được xác lập trong thời kì hôn nhân) hoặc được giao trả lại cho gia đình chồng bạn (nếu là tài sản mà gia đình chồng bạn đã đưa cho gia đình bạn – không bao gồm bạn trong đó).

Ở đây, bạn cần đảm bảo làm rõ được các căn cứ mà chúng tôi đã để nghị ở trên, để làm tiền đề cho việc giải quyết tranh chấp tài sản giữa hai bạn.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.