Tư vấn hôn nhân về việc khai sinh cho con khi bố mẹ ly hôn

Công ty Luật TNHH Everest tư vấn khai sinh cho con khi bố mẹ đã ly hôn.

Hỏi: Tôi lấy chồng đã được 04 năm nhưng không đăng kí kết hôn. Hai chúng tôi đã có con gái 02 tuổi nhưng đến giờ chúng tôi chưa làm giấy khai sinh cho cháu. Tôi đã nhắc cho chồng tôi việc đi khai sinh cho con gái nhưng anh ấy không đi. Hiện tại hai vợ chồng chúng tôi muốn chia tay, do tài sản chung của hai vợ chồng không có gì đáng kể.Vì thế, tôi quyết định bế con về nhà ngoại ở mà không cần mang theo gì cả. Vấn đề ở đây là bây giờ tôi có thể tự mình đi làm giấy khai sinh cho con mà không cần tên bố đứa bé được không? việc làm giấy khai sinh muộn cho con tôi có bị xử phạtkhông? (Minh Thùy - Hà Nội)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Đào Thị Thu Hường - Tổ Tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo Điều 13,Văn bản hợp nhất số 8013/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng kí quản lý hộ tịch:Thẩm quyền đăng ký khai sinh"1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.2. Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh.3. Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó".

Theo Điều 14,Văn bản hợp nhất số 8013/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng kí quản lý hộ tịch:Thời hạn đi khai sinh và trách nhiệm khai sinh"Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em".

Theo Điều 15,Văn bản hợp nhất số 8013/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng kí quản lý hộ tịch:Thủ tục đăng ký khai sinh"1.Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Tờ khai, Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn2. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.3. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh".

Như vậy, trong trường hợp của bạn, bạn có thể đến Uỷ ban nhân dân xã/phường/thị trấn nơi cư trú của bạn để đăng kí khai sinh cho con bạn, Giấy khai sinh có thểkhông có tên bố theo Khoản 3,Điều 15,Văn bản hợp nhất số 8013/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng kí quản lý hộ tịch.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.