Sự khác nhau giữa tạm giam và tạm giữ

Tạm giam là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và biện pháp ngăn chặn, bảo đảm xử lý vi phạm hành chính.

Khách hàng Nguyễn Như - Bắc Giang, đề nghị luật sư tư vấn về sự khác biệt giữa tạm giamtạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự.

Tóm tắt yêu cầu của khách hàng: Bạn của tôi vừa bị công an tạm giữ vì có hành vi gây rối trật tự công cộng. Công an thông báo tạm giữ bạn tôi 03 ngày, nhưng sau đó lại thấy thông báo sẽ tạm giam bạn của tôi tiếp 02 tháng. Tôi không hiểu thế nào là tạm giam, thế nào là tạm giữ. Đề nghị Luật sư tư vấn, giữa tạm giam và tạm giữ có gì khác nhau?
 Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật sư Nguyễn Thị Yến - Trưởng nhóm Tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

- Tạm giam:

Khái niệm, điều kiện áp dụng: Là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng; nếu phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra (khoản 1 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự).

Nơi tạm giam: Nhà tạm giữ của Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Nhà tạm giữ ở Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương.

Thời hạn áp dụng: Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (khoản 1 Điều 120). Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần có thời gian dài hơn cho việc điều tra, cơ quan điều tra trình văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn.

- Tạm giữ:

Khái niệm, điều kiện áp dụng: Là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và biện pháp ngăn chặn, bảo đảm xử lý vi phạm hành chính. Áp dụng đối với những người bị bắt khẩn cấp, người phạm tội quả tang, người tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã (khoản 1 Điều 86).

Nơi tạm giữ: (i) Tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự: Nhà tạm giữ, buồng tạm giữ, trại tạm giam; Trại tạm giam thuộc Bộ Công an và Trại tạm giam ở Công an cấp tỉnh; Trại tạm giam quân sự; (ii) Tạm giữ người theo thủ tục hành chính: Nơi tạm giữ người theo thủ tục hành chính là nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính được bố trí tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi làm việc của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người vi phạm hành chính; Trường hợp không có nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính thì tạm giữ tại phòng trực ban hoặc phòng khác tại nơi làm việc, nhưng phải bảo đảm các quy định chung.

Thời hạn áp dụng: (i) Tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự: Thời hạn tạm giữ không được quá 03 ngày, kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt; Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá 03 ngày; Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 3 ngày. (ii) Tạm giữ người theo thủ tục hành chính: Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ; Trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; Đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật tố tụng mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.