Mua nhà trên đất trồng cây lâu năm có được không?

Việc xây dựng nhà trên đất trồng cây hàng năm là hành vi sử dụng đất không đúng mục đích sử dụng đất, đây là hành vi cấm của pháp luật đất đai được quy định tại khoản 3, điều 12 của Luật đất đai 2013.

Hỏi: Hiện tôi đang có ý định mua nhà tại xã long thượng, huyện cần giuộc, long an. Giáp ranh với huyện bình chánh. Theo tôi tìm hiểu thì lô đất này thửa số là 529 trên tờ bản đồ số 4. Hình thức sử dụng đất này là đất trồng cây hằng năm khác. Và thời hạn là 15/10/2063 và nguồn gốc nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng.Hiện tại thìtrên mảnh đất này có xây dựng ngôi nhà hết diện tích đất. Nhà đã cấp số nhà. Điện và nước đầy đủ. Nhưng về phần bản vẽ khi tôi hỏi thì không có. Và phần nhà ở trong sổ cũng không ghi thông tin gì. Chủ nhà hứa hẹn sang tên chuyển chủ cho tôi và lên phường xác nhận công chứng thủ tục đầy đủ. Xin hỏi Luật sư, Nếu tôi mua nhà vào ở có gặp vấn đề gì không? Và nếu tôi mua thì sau này tôi muốn lên đất thổ cư và xây nhà có được không, có phải bị đóng phạt vì đã xây dựng tại thời điểm trên hay không? (Nguyễn Khải Hòa - Tuyên Quang)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Bùi Ánh Vân - Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Bạn có trình bày thì đất này là đất trồng cây hàng năm và gia đình này lại xây dựng nhà trên hết diện tích đó. Việc xây dựng nhà trên đất trồng cây hàng năm là hành vi sử dụng đất không đúng mục đích sử dụng đất, đây là hành vi cấm của pháp luật đất đai được quy định tại khoản 3, điều 12 của Luật đất đai 2013.

Do đó, xây dựng nhà ở trên đất trồng cây hằng năm là trái với quy định của pháp luật đất đai và hành vi này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.Nếu bạn mua nhà vào ở chắc chắn sẽ gặp rủi ro bởi nếu cơ quan nhà nước phát hiện mục đích sử dụng đất là đất trồng cây hàng năm nhưng lại xây nhà ở trên đó mà lúc đó bạn đã là chủ sở hữu của căn nhà cũng như là người sử dụng đất thì cơ quan nhà nước sẽ xử phạt hành chính đối với bạn về hành vi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng họ, đất rừng đặc dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép được quy định tại khoản 2 và khoản 3, điều 8 của Nghị định 102/2014/NĐ-CP

Điều 8.chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng họ, đất rừng đặc dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

"2. Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang đất phi nông nghiệp thì hình thức và mức xử phạt như sau: a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta; b) Phạt tiền từ trên 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép từ 0,5 héc ta đến dưới 03 héc ta; c) Phạt tiền từ trên 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép từ 03 héc ta trở lên.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này; b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này".

Không những bị xử phạt mà còn phải thực hiện biện pháp khắc phục đó là khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm, tức phải phá dỡ căn nhà đã xây dựng trên đó. Do đó, tốt nhất trước khi làm hợp đồng chuyển nhượng căn nhà đó, bạn nên yêu cầu bên bán nhà và đất chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở theo quy định của pháp luật đất đai.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.